Tiền số - Digital Currency - là gì?
File

Cần phải nói ngay rằng, tiền số ngân hàng trung ương CBDC dù được dùng trong thanh toán điện tử nhưng về bản chất thì không hẳn hoàn toàn là tiền điện tử (electronic currency) theo nghĩa thông thường như chúng ta vẫn biết. Hằng ngày người ta vẫn giao dịch qua internet banking, mobile banking, ví điện tử, thẻ tín dụng, thẻ ATM,... thì các giao dịch đó là điện tử, tiền đó là dưới dạng tiền điện tử - nó cũng là “số” nhưng chưa thực sự là đúng nghĩa digital về bản chất như nói dưới đây.

Dự án đình đám nhất về “tiền số tư” (private digital currency) là Libra của Liên minh Nhị thập Bát Tú do Facebook chủ trò. Tuy chưa được phép tại nhiều nơi, và người ta hay nói về tính chất tiền tệ mã hóa (cryptocurrency) của nó, nhưng thực tế thì Libra cũng chỉ là loại tiền tệ điện tử có ứng dụng những thuật toán và những thành phần bảo mật của công nghệ blockchain mà thôi. Rõ ràng, nó cũng “số” theo nghĩa “điện tử” và là phương tiện thanh toán điện tử. Vì Libra là “tư” nên không dễ mà những định chế tài chính - ngân hàng các quốc gia trên thế giới lại chấp nhận nó được, nhất là G7 hoặc G20 - chẳng lẽ “chúng tớ là ngân hàng nhà nước trung ương lại để cho cậu tư nhân dù có tới hơn 2 tỷ “công dân toàn cầu” lại dám cả gan lũng đoạn các nền kinh tế và chính sách tiền tệ của chúng tớ hay sao?!”.  

Khác hẳn Libra, tiền tệ mã hóa kiểu như Bitcoin, Ethereum, Ripple,... (có tới vài ngàn loại như vậy) là full blockchain - sử dụng hoàn toàn đầy đủ công nghệ chuỗi khối, được phát hành không phụ thuộc “bố con thằng nào” vốn có thể tùy tiện “in bao nhiêu giời biết”. Tiền tệ mã hóa có lượng lưu hành (phát hành) tại mỗi thời điểm là “cố định” (nên không có “lạm phát”), phụ thuộc vào việc ai thích thì dùng, để lưu giữ tài sản hoặc thanh toán, kể cả buôn lậu đỉnh cao lẫn rửa tiền; tuy nhiên, giá cả của mỗi cryptocurrency so với các tiền tệ pháp định (còn gọi là tiền tệ định danh) là trồi sụt thất thường kể từ khi chúng xuất hiện tới nay, nhất là Bitcoin. Có lẽ là do bởi số lượng người dùng còn vừa phải, nhu cầu sử dụng như một phương tiện tiền tệ thông thường còn khá chừng mực và sự kiểm soát tương đối ngặt nghèo của nhiều định chế quốc gia - dân tộc.

 

File

Sức ép của tiền tệ mã hóa và các loại tiền số tư như Libra (trên thế giới có hàng chục dự án tương tự như Libra) dựa trên công nghệ blockchain đã buộc ngân hàng trung ương nhiều nước phải tìm cách cải tổ đồng tiền quốc gia của mình để đối phó. Cùng với Covid-19, các đồng tiền số của các ngân hàng trung ương đang lần lượt ra đời sau nhiều năm nghiên cứu và phát triển công nghệ. Người ta đang nói nhiều về Tệ số (digital Yuan của Trung Quốc), Dollar số (digital Dollar của Hoa Kỳ), Yên số (digital Yen của Nhật Bản),...

 

File

Về bản chất, tiền số thực thụ - đó là biểu diễn số (digital [re]presentation) của tiền tệ định danh (fiat currency), do NHTW định chế quốc gia - dân tộc nào đó phát hành. Vì vậy, người ta hay dùng chữ CBDC-Central Bank Digital Currency (Trung Quốc thì dùng chữ DC/EP-Digital Currency/Electronic Payment cho digital Yuan). Hiện các nước G6 đều đã sẵn sàng (nhất là Nhật Bản) đối với CBDC của mình, nhưng đang “ngó nghiêng” xem G1 Hoa Kỳ định “chạy” digital USD ra sao. Ngoài Trung Quốc đã chính thức phát hành Tệ số vào lúc đỉnh dịch tại Vũ Hán, hầu hết các nước G20 cũng đã sẵn sàng cho CBDC, có nước thì đã thử nghiệm hạn chế (như Ấn Độ chẳng hạn) hoặc đưa vào song song với tiền tệ định danh một vài loại tiền số đặc thù (như Venezuela với petromoneda từ 2018). CBDC xuất hiện là nhằm giải quyết những nhiệm vụ của mình, đó là: ổn định khả năng mở rộng quy mô của tiền tệ mã hóa hiện hữu, khấu hao các tiền tệ định danh, “hấp phụ” các trái phiếu quốc gia và các nghĩa vụ nợ khác, hiện đại hóa sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, cũng như nhằm đạt được một số mục tiêu phát triển bền vững.  

 

File

Như là biểu diễn số của tiền định danh, thường được hoán đổi theo tỷ lệ 1:1, cho nên tiền số CBDC của mỗi quốc gia sẽ là sự thay thế cho tiền tệ vẫn thường dùng, đôi khi người ta coi nó như M0 hay M1 vậy - tiền mặt (cash) hoặc tiền vật chất như cash (ai thích thì tìm hiểu thêm M2, M3,... là gì thì cũng sẽ biết việc “nhân tiền tài khoản” ra sao trong hệ thống Ngân hàng Thương mại, kể cả electronic - ở đây chúng ta sẽ không bàn chuyện này). Điều khác biệt là mỗi quốc gia ngoài việc phát hành tiền số dùng chung D0 thì họ có thể phát hành các loại tiền số đặc thù khác D1, D2,... cho những mục đích riêng (dự án, ngành, khu vực,...) mà không được phép hoán đổi với D0 kia (đây là lợi thế chống lạm phát của CBDC mà Covid-19 đã thúc đẩy các nước cần phải phát hành tiền số, sẽ được trình bày phía dưới).  

Ví dụ đơn giản dễ hiểu về việc phát hành hoặc thu hồi tiền số là như sau: một ngân hàng thương mại, nếu được phép của ngân hàng trung ương quốc gia mình, vào ngày nào đó gom hết toàn bộ các loại tiền mặt và tiền vật chất mà họ đang có vào một chỗ, kiểm đếm và đối chiếu với khách hàng/tài khoản rồi cho hết vào kho két ngân quỹ và khóa kỹ lại. Sau đó với mỗi chủ thể liên quan tới mớ M0, M1 kia sẽ được “ném vào” ví điện tử của họ từng loại tiền số tương ứng. Kể từ đó thì tiền số sẽ “chạy”. Ngược lại, khi hết nhu cầu thì ngân hàng thương mại lại mở kho két ngân quỹ kia và cho các loại tiền mặt và tiền vật chất tiếp tục lưu thông như trước đây, sau khi đã thu hồi tiền số trên các ví ở những chủ thể liên quan... Tất nhiên, CB quốc gia lúc nào cũng có quyền phát hành DC cho đất nước mình dựa trên cơ sở những thỏa thuận nhất định để thay thế cho fiat currency thông thường.

 

File

Như vậy, tiền số CBDC có một số đặc điểm:

- phát hành bởi NHTW của quốc gia nào đó.

- có sử dụng công nghệ blockchain để đảm bảo an toàn.

- tài khoản của mọi chủ thể là ví điện tử “trung tính” đa loại tiền tệ (tài khoản tại NHTM thì buộc phải mở nhiều tài khoản) của chủ thể với khóa công khai (public key) và khóa riêng (private key) do chủ thể tự đặt và lưu giữ.

Tức là:

- Chi phí phát hành CBDC coi như bằng 0.  

- Thời gian phát hành cực nhanh “như điện”, enter một phát là CBDC sẽ “phủ sóng” toàn đất nước ngay lập tức.

 

File
File
File
File
File

- Với CBDC thì “tiền ai nấy giữ bên mình” trong ví điện tử chủ sở hữu. điều này làm mất đi chức năng “giữ hộ” tiền của các NHTM và hạn chế đáng kể việc “nhân tiền tài khoản” có thể bị lạm dụng bởi họ. Không một ai có quyền “mang vác” CBDC của chủ sở hữu ra khỏi ví của họ nếu như họ không cho phép (khác với tiền gửi tại các NHTM thì các chủ tài khoản hoàn toàn không biết gì về việc “tiền của mình được mang vác đi đâu, ra sao”, con số trên tài khoản thuần túy là một bút toán kế toán).

- Thời gian cho 1 giao dịch với CBDC dự kiến là cực nhanh, cỡ micro giây.

- Mọi giao dịch với CBDC đều được dõi theo và giám sát chặt chẽ bởi CB.

- CBDC là biểu diễn số của fiat currency, tức là như một phương tiện thanh toán điện tử xuyên biên giới do đặc thù của Internet, nhất là khi “tiền ai nấy giữ” thì muốn làm gì chả được và nếu công nghệ nền tảng của CBDC nào đó mà an toàn tiện lợi thì nó “đi đâu mà chả được” - tức là bất kể CBDC của nước nào cũng có cơ hội trở thành phương tiện mậu dịch quốc tế “như người lớn”.

- Về nguyên tắc thì việc hoán đổi fiat currency sang CBDC có sự đồng thuận của nhà nước với xã hội. Tuy nhiên, thực tế thì các chính phủ và các NHTW có bao giờ hỏi ý kiến ai về việc “làm tiền” đâu. Ai chưa quen dùng DC thì hẳn sẽ có bước chuyển tiếp phù hợp thôi, có điều chẳng ai biết được ông CB sẽ phát hành lượng DC bao nhiêu (hệt như fiat money vậy, cái này khác hẳn cryptocurrencies là có hạn định).

 

File

Khi có khủng hoảng (như do Covid-19 hiện nay), chẳng nước nào lại không in tiền fiat để chi tiêu công và cứu trợ các khu vực, ngành đang gặp khó khăn. Khủng hoảng càng lớn thì in tiền càng nhiều và lạm phát càng khủng. Nền kinh tế nào khá mạnh thì lạm phát chỉ số thấp, còn không cũng sẽ tiến gần tới tình trạng kiểu như Venezuela hay Zimbabue cả - đặc biệt khủng hoảng 2020 này sẽ làm những vụ siêu lạm phát là hiện thực tại nhiều nước.

 

File

Người ta sẽ tính toán một loại CBDC chung D0 với lượng phù hợp dùng cho cả quốc gia. Với dự án cụ thể cần cứu trợ hoặc phát triển đặc thù, CB sẽ phát hành riêng cho dự án N đó loại DC có tên DN với số lượng phù hợp và trong thời hạn xác định. DN không được phép hoán đổi với D0 và nếu coi dự án N đã cho như một hệ sinh thái thì tại đó chỉ cần dùng một lượng rất bé D0, còn lại là DN. DN được dùng trong mọi giao dịch thanh toán giữa các thành tố liên quan nội dự án N: mua bán, trả lương, tiêu dùng nội cung cấp, thậm chí nộp thuế cho nhà nước,... Vì chỉ dùng lượng D0 là khá nhỏ và DN (không hoán đổi với D0) chỉ dùng cho nội dự án N nên sẽ hầu như sẽ không gây ra lạm phát ở tầm mức quốc gia. Khi dự án N đã phát triển tốt hoặc kết thúc thì người ta rút dần DN khỏi lưu thông và “đóng” nó lại.

 

File
File

Như đã nói ở trên, CBDC là một công cụ mạnh, tiện lợi và hiệu quả đối với mọi nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, ngoài việc không dễ sử dụng đối với tầng lớp dân cư nào đó (không có phương tiện đầu cuối phù hợp hoặc những kỹ năng “quẹt, nhấn” đòi hỏi) thì CBDC cũng còn có những nhược điểm cố hữu khác: Nó không phải là tiền tệ phi tập trung nên khó tránh “lạm quyền” trong phát hành; quyền riêng tư có thể bị lạm dụng/xâm hại do mọi giao dịch của các chủ thể có liên quan đều được hệ thống “trung ương” theo dõi/giám sát chặt chẽ mà không cho phép ẩn danh; hệ thống NHTM sẽ phải chuyển đổi theo hướng khác đi (khi đã mất vai trò là kho trữ tiền của khách hàng - công dân/tổ chức/doanh nghiệp) và trong giai đoạn còn đang chuyển đổi số fiat money sang CBDC sẽ có những xáo trộn kinh tế - xã hội nhất định và mang màu sắc chính trị, không loại trừ khả năng “nhập nhèm” rửa tiền với việc “nhân tiền tài khoản” xưa nay khó kiểm soát chặt chẽ - đặc biệt liên quan tới những khoản nợ xấu doanh nghiệp.  

Suy cho cùng, CBDC dẫu sao cũng chỉ là một công cụ trung chuyển trong tiến hóa nhân loại vẫn còn gắn liền với quốc gia - dân tộc chưa thực sự phi biên giới và mang tính toàn cầu phổ quát. Tiến hóa của tiền tệ, giá trị (value) và quyền sở hữu tài sản - giá trị nói chung cũng cần phải chờ thêm một thời gian không lâu nữa - khi nó sẽ không còn chức năng là phương tiện lưu giữ tài sản - giá trị mà chỉ sẽ thuần túy là phương tiện hoán đổi các giá trị: phi tập trung, mã hóa an toàn cao, xác thực khả tín theo thời gian thực, không thể bị sửa đổi hay phá hủy và cho phép ẩn danh.  

 

File

Và khi mà hầu hết các nền kinh tế phát triển và đang phát triển nào đó cũng đều có CBDC của mình thì hẳn sẽ có một đơn vị tiền tệ số chung cho mậu dịch thế giới và hẳn “giỏ” ngoại tệ số mạnh sẽ có thay đổi về chủng loại và tỷ trọng trong tương lai không xa - khác với “giỏ ngoại tệ fiat mạnh” hiện thời. Hiện nay, người ta đang bắt đầu nói về một trật tự thế giới mới cùng một đơn vị tiền tệ thế giới với sự thay đổi cán cân “các ngoại tệ số mạnh” trong dự trữ quốc gia và thanh toán mậu dịch quốc tế - loại bỏ các vị thế độc quyền của những loại tiền tệ định danh đã biết cho tới nay - mà bản chất nội hàm thì đó là sự thay đổi/chuyển dịch cội rễ của hệ thống giá trị, tài chính - ngân hàng, giao dịch thanh toán và tư bản vốn với lịch sử hàng trăm năm gần đây.

Tiền số CBDC là một bước tiến bộ văn minh đáng kể của công cuộc chuyển đổi số tiền tệ tại mỗi quốc gia!.

File

Bài: Lê Nguyễn Như Hùng

Đồ họa: Hà Nguyên