Sự trỗi dậy nguy hiểm của SARS-CoV-2

Virus là gì và tại sao các nhà khoa học   lại nuôi cấy chúng?

Những khám phá đầu tiên trong ngành virus học - bộ môn khoa học phát kiến ra virus và nghiên cứu chúng - đã có từ năm 1892. Tới nay, hơn 6.000 loại virus đã được phát hiện, nhưng người ta cho rằng có tới hơn 100.000 loài đang tồn tại. Virus đã được tìm thấy trong hầu hết các hệ sinh thái, các loại virus mới (chính xác hơn là bị quên lãng) được tìm thấy ngay cả trong những tảng băng vĩnh cửu. Vậy virus là gì? Có rất nhiều định nghĩa, nhưng chính yếu nhất có thể coi: Virus (theo tiếng latinh thì Virus - đó là độc tố) - là tác nhân lây nhiễm không phải dạng tế bào, chỉ có thể được sao chép nhân rộng bên trong các tế bào sống. Virus lây nhiễm cho mọi loại sinh vật, từ thực vật và động vật cho tới vi khuẩn.

Ngoài những loại virus lây nhiễm cho các sinh vật sống phức tạp, còn có những loại virus lây nhiễm cho các loài vi khuẩn. Chúng được gọi là thực khuẩn thể. Trong nhiều trường hợp, các thực khuẩn thể có thể được sử dụng cho mục đích y tế.

Đã tìm thấy những virus có khả năng nhân bản chỉ khi có sự hiện diện của các virus vệ tinh khác mà như một vật mang chúng thì con người có thể không hề biết gì. Bản thân hệ miễn dịch của người và động vật khá tích cực chống lại nhiều loại virus. Đồng thời, các kháng thể được tạo ra sẽ cho phép virus bị đánh bại khi chúng tái xâm nhập cơ thể. Điều này không phải lúc nào cũng đúng với những dạng đột biến của một số chủng loại virus. Có loại virus ngay từ đầu có thể xuyên qua hệ miễn dịch, chẳng hạn như một số loại herpes và HIV. Nhiều loại virus cho phép chống lại các vi khuẩn, làm cho một số chúng trở thành phương tiện chống lại những bệnh như thương hàn và tả. Nhà vi khuẩn học người Anh là Frederick Tworth vào đầu thế kỷ XX đã phát hiện ra tính chất như vậy ở virus. Tại thời điểm đó, những nghiên cứu này đã không được chú ý tới, do thực tế là penicillin vừa được phát minh đã chiến đấu rất thành công với nhiều mầm bệnh.

Tính chất thú vị của virus được phát hiện từ thế kỷ XIX là nó cần một sinh vật sống để tồn tại và sinh sản. Về sau, các nhà khoa học đã có thể nuôi cấy virus để sản xuất vaccine trên bạch huyết, huyền phù từ thận gà hoặc trên những mô giác mạc lợn biển. Thí nghiệm đầu tiên trên các mô thai nhi được thực hiện vào năm 1949 bởi John Enders, Thomas Weller và Frederick Robbins. Họ đã nhận được virus bại liệt, lần đầu tiên được nuôi cấy không phải trên mô hoặc trứng động vật. Ít lâu sau, việc đó đã cho phép Jonas Salk tạo ra được loại vaccine ngừa bại liệt rất hiệu quả.

Ban đầu, người ta từng nghĩ rằng virus là chất lỏng vì chúng không thể được nhìn thấy qua kính hiển vi quang học. Cũng từng có ý kiến ​​cho rằng đó là những phần tử cực kỳ nhỏ. Chỉ với sự ra đời của kính hiển vi điện tử thì mới thu nhận được những hình ảnh đầu tiên của virus, cho phép hiểu biết nhiều hơn về cấu trúc của chúng. Thời hoàng kim của virus học là nửa sau của thế kỷ XX: không chỉ tìm ra được khoảng 2.000 loại virus và đưa ra được mô tả của chúng, mà vaccine chống lại nhiều chủng virus cũng đã được phát triển. Quả thực, một số loại virus hiện vẫn chưa thể bị đánh bại, như retrovirus (virus sao chép ngược) mà đại diện nổi tiếng nhất là HIV được phân lập vào năm 1983 bởi nhóm các nhà khoa học do Luc Montagnier đứng đầu (Viện Pasteur của Pháp).

File

Virus và quá trình tiến hóa

Tuy nhiên, trong sinh học không có gì lại có ý nghĩa nếu không dưới ánh sáng của tiến hóa! Hàng triệu năm trước, các sinh vật sống cũng từng bị phơi nhiễm bởi virus: ngoài việc tạo điều kiện cho chọn lọc tự nhiên (cho phép “tẩy bớt” dân số và giúp các sinh vật sống được phát triển) thì việc này đã để lại dấu ấn mà giờ đây đang cho phép nghiên cứu về nguồn gốc các loài và các chuỗi tiến hóa. Số là khi xâm nhập vào cơ thể các động vật cổ đại, virus đã có thể giết chết họ; nếu chúng không giết được họ thì chúng vẫn tồn tại trong cơ thể như một loại virus an toàn đã mất đi những đặc tính của mình, giống như “lính đã phục viên”. Nếu những retrovirus như vậy mà lại hiện diện trong hệ sinh sản thì chúng có thể được truyền sang các thế hệ mới và thay đổi DNA của họ. Bằng cách đó, chúng không chỉ xâm nhập vào cơ thể mà còn truyền qua các đời hậu duệ trong hàng triệu năm. Khi loài người đã giải mã được gene, hóa ra những dấu vết như vậy đều nằm đúng ở đấy, không phụ thuộc vào loài sinh vật sống. Đây là một cách mà sinh học đã chứng minh về sự tồn tại của tiến hóa và nguồn gốc chung của các loài, như vẫn nói là “từ chỗ mà không ai trông chờ gì”. Song, “thông tin về virus” như vậy lại là không an toàn, bởi vì tồn tại cơ chế sao chép ngược được phát minh vào năm 1970 bởi hai nhà khoa học Mỹ đoạt giải thưởng Nobel là Howard Temin và David Baltimore. Nhờ cơ chế này, virus có thể quay trở lại ở dạng đột biến, thậm chí có thể ở dạng siêu virus, sẽ có thể gây ra đại dịch toàn cầu.  

Virus “lính phục viên” dường như tuyên bố “đó không phải là cuộc chiến của tôi”, nhưng rồi ngay kế đó vẫn cầm súng và tham chiến. Thông thường “cuộc nổi loạn” như vậy được diễn ra do sự hợp tác nào đó của các virus. Trước đấy, “sự hợp tác” đó được coi là không thể, nhưng giờ thì lại khác: loại virus đang thực thụ tồn tại lại xâm nhập vào cơ thể, còn virus tàn dư có sẵn trong gene, chẳng hạn, lại cung cấp cho nó các cấu trúc protein. Chính vì sự hiện diện của virus tàn dư trong gene của các sinh vật sống mà nhiều nhà khoa học đã kịch liệt phản đối việc cấy ghép nội tạng từ động vật sang người. Sự kết hợp của các mô như vậy có thể góp phần vào sự xuất hiện của loại siêu virus mà đơn giản là không thể đánh bại chúng được.

File

Virus từ đâu mà ra và vòng đời của chúng ra sao?

Không có ý kiến đơn nhất cho câu hỏi này, nhưng có ba giả thuyết chính. Giả thuyết đầu tiên được gọi là hồi quy (còn gọi là giả thuyết suy giảm hoặc thoái hóa). Theo đó, ban đầu có những tế bào nhỏ đã ký sinh trên các sinh vật lớn hơn. Về sau, những vi khuẩn này đã bị đơn giản hóa, mất đi những chức năng không cần thiết cho lối sống ký sinh. Bằng chứng của giả thuyết này là sự tồn tại của các vi khuẩn rickettsia và chlamydia. Bản chất thì chúng là vi khuẩn, nhưng lại hoạt động như virus, chỉ lan truyền bên trong tế bào sống với các cấu trúc protein của mình.  

Giả thuyết thứ hai được gọi là giả thuyết về nguồn gốc tế bào. Theo đó, virus xuất hiện từ bộ gene của sinh vật lớn hơn nó. Trong gene có những phân tử có thể di chuyển từ tế bào này sang tế bào khác hoặc ngay trong bộ gene. Chính phân tử này có thể đột biến và chuyển biến dần thành virus. Giả thuyết thứ ba đó là virus đã xuất hiện từ buổi bình minh của sự sống, nghĩa là cỡ cùng lúc với khởi sinh của đời sống tế bào. Nhiều nhà nghiên cứu đang nghiêng về lý thuyết này. Tranh luận chưa bao giờ lắng xuống và vẫn chưa có câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi virus từ đâu mà ra.

Vì virus không có quá trình trao đổi chất riêng nên để tổng hợp các phân tử của chính mình, nó cần phải có một tế bào chủ. Bên ngoài tế bào chủ, virus hoạt động như phần tử độc lập của một cao phân tử sinh học và không thể hiện các dấu hiệu của sinh vật sống. Kích thước của nó nhỏ hơn khoảng 100 lần so với vi khuẩn và hình dạng thì thay đổi từ đơn giản là xoắn ốc tới các cấu trúc phức tạp hơn. Một trong những hình thức của chúng tương tự như vương miện, chính đó là coronavirus. Nhiều nhà khoa học gọi virus là “thực thể nằm ở lằn ranh sự sống”: một mặt, chúng không phải là sinh vật, nhưng mặt khác, chúng có thể được nhân lên, tiến hóa và tiến hành hoạt động sống, cho dù là nhờ dinh dưỡng bên ngoài bởi những cấu trúc protein của tế bào chủ.  

Vòng đời của virus chỉ gồm vài giai đoạn. Đầu tiên được gọi là bám dính, lúc này hình thành các liên kết giữa những protein của vỏ virus (virus capsid) với bề mặt của tế bào chủ. Đôi khi, virus chỉ tương tác với những tế bào nhất định, chẳng hạn như HIV là chỉ với các tế bào bạch cầu. Ở giai đoạn thứ hai, xảy ra sự xâm nhập vào tế bào chủ. Sau đó, virus được giải phóng khỏi vỏ protein của mình: nó ra khỏi vỏ và phóng bộ gene của mình vào trong tế bào chủ. Cách thức tự giải phóng khỏi vỏ protein là rất khác nhau: có thể bị hòa tan bởi các enzyme của chính virus hoặc bằng cách sử dụng những thành tố bên trong tế bào chủ. Tiếp theo, virus được nhân bản lên, khi tổng hợp các gene ban đầu của mình. Kế đó, nó tập hợp thành những cấu trúc và ở giai đoạn cuối cùng thì sẽ rời hẳn khỏi tế bào chủ sau khi tế bào chết. Thông thường, điều này diễn ra do màng tế bào chủ bị phá vỡ.

Nhiều loại virus không dẫn đến việc phá hủy tế bào và cho tới thời điểm nhất định thì nó không biểu lộ bản thân. Chúng có thể tồn tại nhiều năm bên trong tế bào và gây ra những bệnh mãn tính. Ví dụ về các loại virus này là herpes - chỉ biểu hiện với sự kết hợp của những yếu tố nhất định, hoặc papillomavirus - trong một số trường hợp có thể dẫn đến sự phát triển các bệnh ung thư. Một ví dụ khác đó là virus Epstein-Barr - dẫn tới sự tăng tốc phân bào, nhưng không có dấu hiệu ác tính.

File

Những đại dịch virus lớn gần đây  

Virus có thể dẫn tới bệnh tật của người hoặc động vật cũng như gây ra đại dịch. Trong lịch sử đã có một số đại dịch lớn đã cướp đi hàng trăm ngàn sinh mạng. Theo một số dữ liệu, virus truyền từ “lục địa cũ” đã giết chết tới 70% dân số bản địa của Hoa Kỳ sau khi tìm ra châu Mỹ. Đó chính là dấu hiệu của đại dịch mà không nên nhầm với một dịch bệnh đơn giản. Đại dịch nổi tiếng nhất là cúm Tây Ban Nha diễn ra vào năm 1918 - 1919 do một loại virus cúm A rất mạnh gây ra. Khác với cúm thông thường - vốn nguy hiểm trước hết đối với những người yếu (người già, trẻ em, người mắc bệnh mãn tính), cúm Tây Ban Nha đã cướp đi sinh mạng của những trung niên khỏe mạnh. Theo ước tính khác nhau, tổng cộng có từ 50 triệu đến 100 triệu người đã chết - tức là khoảng 5% dân số thế giới tại thời điểm đó.

Theo các định nghĩa và các số liệu, HIV có thể được coi là đại dịch thực sự, bởi vì hiện nay theo những ước tính thì số người nhiễm bệnh trên hành tinh của chúng ta đã gần 40 triệu người. Kể từ thời điểm phát hiện ca nhiễm đầu tiên vào năm 1981 cho tới nay, số người đã chết vì loại virus này nhiều tới mức có thể coi đó là virus nguy hiểm nhất trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Người ta cho rằng loại virus này xuất hiện trong thế kỷ XX ở châu Phi, phía nam sa mạc Sahara. Có lẽ nó được sinh ra từ một trong những virus tàn dư mà chúng ta đã đề cập ở trên.

Sự trỗi dậy của SARS-COV-2

Coronavirus (Coronaviridae) là một họ lớn các virus RNA có thể lây nhiễm cho người và một số động vật, được tìm ra từ những năm 1960. Ở người, coronavirus có thể gây ra một loạt bệnh, từ dạng nhiễm trùng hô hấp cấp tính nhẹ cho đến hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng. Hiện có bốn loại coronavirus (HCoV-229E, -OC43, -NL63 và HKU1) vẫn đang lưu hành trong dân số, quanh năm hiện diện trong cấu trúc bệnh viêm hô hấp cấp tính do virus và thường gây ra tổn thương hô hấp ở mức độ nhẹ và trung bình. Theo phân tích huyết thanh và phát sinh gene, coronavirus được chia thành ba chi: Alphacoronavirus, Betacoronavirus và Gammacoronavirus. Vật chủ tự nhiên của hầu hết các coronavirus hiện được biết đến là động vật có vú.

Cho tới năm 2002 thì coronavirus chỉ được coi là tác nhân gây ra các bệnh nhẹ ở đường hô hấp trên (với kết quả gây tử vong cực kỳ hiếm). Vào cuối năm 2002, coronavirus (SARS-CoV) đã bùng phát như một tác nhân gây suy hô hấp cấp tính nặng ở người. SARS-CoV thuộc chi Betacoronavirus, tàng trữ tự nhiên ở dơi với vật chủ trung gian là lạc đà và cầy hương Himalaya. Tổng cộng, trong giai đoạn dịch bệnh SARS tại 37 quốc gia, hơn 8.000 trường hợp được ghi nhận, trong đó 774 trường hợp tử vong. Kể từ năm 2004, chưa có ca bệnh mới nào liên quan đến SARS-CoV. Năm 2012, thế giới lại đối mặt với MERS, tàng trữ tự nhiên chính là ở lạc đà - tác nhân gây ra hội chứng suy hô hấp nặng Trung Đông - cũng thuộc chi Betacoronavirus. Từ đó tới nay, 2.494 trường hợp nhiễm MERS-CoV đã được xác nhận, trong đó 858 trường hợp tử vong. Tất cả các ca đều liên quan tới Bán đảo Ả Rập (82% trường hợp được ghi nhận tại Arab Saudi). Hiện tại, MERS-CoV vẫn đang tiếp tục lưu hành và gây ra các ca bệnh mới.

Bùng phát dịch SARS-CoV-2 lần này là từ Vũ Hán bởi một loại virus RNA đơn chuỗi, thuộc chi Beta-CoV B, được xếp vào nhóm II về mức độ gây tử vong, y chang SARS-CoV và MERS-CoV. SARS-CoV-2 được nghi là một loại virus tái tổ hợp giữa coronavirus dơi và coronavirus chưa rõ nguồn gốc. Trình tự gene của SARS-CoV-2 giống trình tự gene SARS-CoV không ít hơn 70%. Cơ chế bệnh sinh của nhiễm SARS-CoV-2 hiện vẫn chưa được hiểu rõ, dữ liệu về thời gian và cường độ miễn dịch chống lại SARS-CoV-2 là chưa có. Miễn dịch đối với các bệnh nhiễm SARS-CoV-2 là không bền vững và có thể tái nhiễm. Hiện tại, dữ liệu về hồ sơ dịch tễ học của nhiễm SARS-CoV-2 còn rất hạn chế.  

Nguồn lây nhiễm ban đầu chưa được xác định (thực thể gây bệnh thứ 0). Các trường hợp đầu tiên lây nhiễm căn bệnh này được cho là đã đến chợ hải sản ở Vũ Hán, nơi bán gia cầm, rắn, dơi và các động vật khác. Người ta cho rằng thực thể gây bệnh thứ 0 đã từng hiện diện tại chợ Hoa Nam đó, nhưng chưa rõ là người hay động vật và nguồn gốc là tự nhiên hay nhân tạo. Cho tới hiện tại, nguồn lây nhiễm chính là từ người đã bị nhiễm bệnh, bao gồm cả những ai trong thời kỳ ủ bệnh. Thời gian ủ bệnh ban đầu được WHO công bố là từ 2 - 14 ngày, nhưng đã ghi nhận một số ca ủ bệnh tới 25 - 27 ngày. Các đường lây truyền: qua các bọt không khí (khi có ho, hắt hơi, nói chuyện), bụi không khí và tiếp xúc trực tiếp. Các yếu tố truyền tải: không khí, thực phẩm và đồ vật bị nhiễm SARS-CoV-2. Hệ số lây nhiễm cơ bản R0 được cho là từ 2 tới 5.

File

Một cảnh bệnh viện thời “cúm Tây Ban Nha”.

Những nghiên cứu lâm sàng gần đây  về bệnh lý do SARS-COV-2

Báo cáo lâm sàng trên 99 bệnh nhân ban đầu được xác nhận là bị nhiễm SARS-CoV-2 cho thấy rằng, các triệu chứng sốt và ho (> 80%), khó thở (31%) và đau cơ (11%). Ngược lại với những bệnh nhân bị nhiễm coronavirus gây cảm cúm thông thường, sổ mũi và đau họng ít gặp hơn (≤5%). Người ta đã xác nhận bằng X quang được chứng viêm phổi hai bên (75%) hoặc một bên (25%). 17% bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng, dẫn tới rối loạn chức năng đa cơ quan và tử vong. Khoảng 75% bệnh nhân cần bổ sung oxy và 13% cần thở máy. Độ tuổi của các bệnh nhân bị nhiễm bệnh dao động từ 21 tuổi đến 82 tuổi, với 67% trong số họ> 50 tuổi và 51% mắc các bệnh nền. Tiến triển lâm sàng khác cũng tương tự như ở những bệnh nhân nhiễm MERS-CoV hoặc SARS-CoV.

Mẫu bệnh phẩm đường hô hấp dưới (ví dụ, đờm) dường như có tải lượng virus cao hơn so với mẫu bệnh phẩm đường hô hấp trên (ví dụ, bệnh phẩm họng). SARS-CoV-2 này cũng được phát hiện trong mẫu máu và phân của người bệnh, nhưng chưa rõ liệu các mẫu đó có gây ra lây nhiễm hay không - có khuyến cáo nên đề phòng bệnh lây truyền qua đường phân.

Với 425 trường hợp được xác nhận đầu tiên ở Vũ Hán, ước tính rằng thời gian ủ bệnh trung bình của nhiễm SARS-CoV-2 là 5,2 ngày, với khoảng 95% các trường hợp phát triển các triệu chứng trong vòng 12,5 ngày kể từ khi tiếp xúc với nguồn bệnh, vì thế WHO đã đưa ra khuyến nghị 14 ngày để theo dõi hoặc kiểm dịch y tế. Hệ số lây nhiễm cơ bản R0 và thời gian nhân đôi nhiễm bệnh được ước tính tương ứng là 2,2 và 7,4 ngày - gần với những gì được quan sát trong dịch SARS. Tuy nhiên, việc lan truyền SARS-CoV-2 có thể diễn ra từ những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ và sự lan truyền có thể xảy ra trong giai đoạn ủ bệnh muộn hay không vẫn còn chưa rõ. Trái ngược với kiểu lan truyền được quan sát trong dịch SARS (hiếm khi xảy ra sau 4 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng), cho nên nhiều can thiệp y tế cộng đồng đã từng ngăn chặn thành công sự lây lan của SARS-CoV dường như đang ít có hiệu quả trong bùng phát SARS-CoV-2 hiện nay.

Sử dụng dữ liệu từ các ca nhiễm bệnh từ Vũ Hán và dữ liệu về mô hình du lịch (khoảng 75.000 người nhiễm bệnh ở Vũ Hán từ ngày 1/12/2019 tới ngày 25/1/2020), với xu hướng hiện tại và giả định giảm khả năng truyền bệnh do can thiệp, người ta dự báo ổ dịch ở Vũ Hán sẽ lên tới đỉnh điểm vào tháng 4/2020. Người ta cũng dự báo rằng dịch bệnh này sẽ tiếp tục gia tăng theo cấp số nhân bên ngoài Vũ Hán. Những mô phỏng còn cho thấy rằng việc giảm được 50% trong việc lan truyền bệnh này đã đạt được thông qua các can thiệp y tế cộng đồng, làm chậm đáng kể sự tăng trưởng theo cấp số nhân của bệnh này ít nhất trong vài tháng. Các biện pháp kiểm soát dịch bệnh tích cực như đóng cửa trường học và phong tỏa/cách ly về mặt xã hội có thể làm chậm lan truyền lây nhiễm ở các quốc gia có nguy cơ, nhưng vẫn chưa rõ liệu có thể ngăn chặn sự lây lan của bệnh này trên phạm vi toàn cầu hay không - do thời gian ủ bệnh của SARS-Cov-2 tương đối dài và với tư cách là RNA virus thì nó có nhiều khả năng đột biến khó lường.

Mặc dù giới khoa học đã có nhiều hiểu biết mới trong vài tuần qua, vẫn còn lỗ hổng lớn những tri ​​thức quan trọng về SARS-CoV-2: phương thức lây truyền, sự ổn định của virus trong môi trường, cơ chế sinh bệnh học, phương pháp điều trị và vaccine hiệu quả. Hiện tại, câu hỏi quan trọng nhất là về mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh do SARS-CoV-2. Lưu ý rằng trong giai đoạn đầu của đại dịch cúm H1N1 2009, ước tính tử vong cao tới 10% đã được báo cáo; tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học phân theo tuổi dân số lại cho thấy tỷ lệ tử vong thực sự là khoảng 0,001%. Do đó, dịch tễ học huyết thanh là cần thiết cho một ước tính đáng tin cậy về mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh. Nhiễm bệnh trong quá khứ cũng có thể chuyển thành miễn dịch dân số, đó cũng là dữ liệu cần được tính đến trong các mô hình lây truyền của virus trong tương lai. Ngay cả nhiễm MERS-CoV không phải lúc nào cũng dẫn đến phản ứng kháng thể có thể phát hiện được. Nếu nhiễm SARS-CoV-2 có động lực học đáp ứng kháng thể mà tương tự như với nhiễm MERS-CoV, thì điều này có thể có ý nghĩa đối với dịch tễ học huyết thanh học và sự phát triển miễn dịch. Do đó, nghiên cứu về cả động học kháng thể và động lực học đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào của SARS-CoV-2 đang là ưu tiên hàng đầu.

File

Làm thế nào để phòng, chống virus   nói chung và SARS-CoV-2 nói riêng?

Trong hầu hết các trường hợp thì virus xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp. Khi đó, màng nhầy bắt đầu tiết ra chất dịch và người bệnh bắt đầu cảm thấy bị bệnh. Bản thân virus gây nhiễm cơ thể do sự kích thích của một số bệnh lý, thường là viêm phổi. Nhưng trước khi bị nhiễm bệnh trực tiếp, các triệu chứng biểu hiện chính là phản ứng phòng thủ của cơ thể. Tại thời điểm này, hậu quả nghiêm trọng có thể tránh được và tốt hơn hết là nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ. Hoạt tính mạnh nhất của các bệnh lý do virus thường được ghi nhận là từ tháng 9 đến tháng 4 hằng năm. Cũng có nhiều yếu tố khác thuận lợi cho sự phát triển của bệnh, bao gồm cả khí hậu.

Thông lệ, các bệnh gây ra bởi virus thông thường tự qua đi khá dễ dàng. Theo thống kê, cứ 5 thì có 1 người ít nhất nhiễm virus 1 lần trong 1 năm (số liệu thống kê đối với những ca đi khám bệnh). Trong đa số các trường hợp, mọi người chỉ cần nằm ở nhà tĩnh dưỡng trong vài ngày. Có những người vẫn tiếp tục đi làm, chính vì các “hảo hán” như vậy mà virus mới lây lan rộng.

Để điều trị, có thể và nên sử dụng một số cách đơn giản. Ban đầu, chỉ cần không ra khỏi nhà và không tham gia tụ tập đám đông. Không đáng để hạ nhiệt nếu chưa cảm thấy bị đe dọa tính mạng. Cho tới khoảng 38 - 38,5oC thì nhiệt lại giúp cơ thể chiến đấu với virus. Nếu nó tăng cao hơn nữa thì đã tới lúc phải hạ sốt. Có thể dùng thuốc hạ sốt ngay cả ở nhiệt độ thấp hơn, nhưng lưu ý rằng điều đó sẽ không cho phép ta chiến đấu với bệnh mà chỉ làm giảm các triệu chứng. Nói ngắn gọn, nếu nhiệt độ dưới 38oC và còn có thể chịu đựng được - thì hãy cố gắng mà chịu đựng!

Cũng cần uống nhiều nước. Nước không chỉ loại bỏ độc tố khỏi cơ thể do hoạt động của virus (và không chỉ mỗi chúng), mà còn giúp giữ ẩm cho màng nhầy mà qua đó phần lớn virus sẽ bị bài tiết. Nó sẽ cho phép ta xì mũi hoặc hắng giọng để làm thông đường thở. Nên uống thứ đã đun sôi, nhiệt độ đồ uống nên vào khoảng 45oC để dạ dày hấp thụ được tốt hơn. Lạm dụng chanh và hoa quả chua là không nên, vì chúng sẽ kích thích các ổ viêm. Mọi thứ khác thì nên có chừng mực. Hút thuốc và rượu mạnh, đồ cay cũng sẽ là những tác nhân xấu trong điều trị.

Thực tế, lời khuyên chính ở đây là phải gặp bác sĩ. Dường như ai cũng tự biết rõ về bản thân mình là có thể đã bị nhiễm chủng virus nào đó thường xuất hiện hằng năm. Chúng có thể chưa phải SARS-CoV hoặc MRES-CoV hay SARS-Cov-2 nhưng có thể sẽ rất nghiêm trọng. Nếu nhiệt độ cơ thể tăng lên trên 40oC và có những cơn đau nhói, ví dụ như ở tai, thì không nên trì hoãn việc tới bác sĩ, việc chậm trễ sẽ thực sự tương đương với chết chóc.

Khi điều trị, không nên dùng kháng sinh, vì chúng hoàn toàn bất lực trong cuộc chiến chống lại virus - chúng dành nhắm tới mục đích chống lại các mầm bệnh khác và không thể chống lại virus, tên gọi “kháng sinh” là thế, còn virus thì không phải sinh vật. Ngược lại, sẽ chỉ làm cho sức khỏe bị tệ đi hơn bằng cách làm hại hệ vi sinh đường ruột. Điều này nói chung sẽ làm suy yếu cơ thể và có thể phá hủy một số thứ vốn giúp ích chống lại virus.

Cũng không đáng phải phụ thuộc nhiều vào vitamin C, vì nó có thể chỉ gây hại, đặc biệt là ở trẻ em lại có thể gây ra bệnh lý về gan trong một số trường hợp. Thông thường một người chỉ cần lượng vitamin này từ thực phẩm bình thường với chế độ dinh dưỡng phù hợp. Hơn nữa, đồ uống và thuốc có vitamin C lại cũng có tác động tiêu cực đến các ổ viêm.

Nói chung, có những loại thuốc đặc trị để chống lại virus, nhưng chúng cũng cần được lựa chọn một cách khôn ngoan. Mạnh nhất trong số chúng là oseltamivir và zanamavir, nhưng chúng chỉ nên được sử dụng sau khi tham khảo ý kiến ​​bác sĩ, vì chúng chỉ được sử dụng để chống lại các loại virus mạnh nhất.

Nếu nói về các phương tiện phòng ngừa virus nói chung và SARS-CoV-2 nói riêng, thì không nên quá nhiều kỳ vọng vào khẩu trang. Khẩu trang thông thường từ hiệu thuốc không thể bảo vệ cơ thể 100%, vì nó không thể khít kín với mỗi khuôn mặt khác nhau. Khẩu trang nên có bộ lọc và bám khít thật tốt, nhưng đeo nó trong điều kiện bình thường thì hầu như cũng không đáng. Tuy nhiên, vẫn có một số lợi ích từ khẩu trang thông thường, đặc biệt là trong thời gian gia tăng tỷ lệ mắc bệnh. WHO khuyến cáo rằng, nó là bổ sung tốt cho một cơ thể mạnh mẽ, nhưng không phải là thứ toàn năng. WHO cũng đặc biệt khuyến cáo là nên rửa tay thường xuyên bằng nước và xà phòng hoặc các dung dịch diệt khuẩn.

Hiện nay, nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã thành công trong việc phân lập được SARS-CoV-2 và đã có những bộ KIT thử nghiệm nhanh. Đã có những mẫu vaccine phòng thí nghiệm đầu tiên tại Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản,... Dự kiến, các mẫu vaccine sau khi hoàn thiện sẽ được thử nghiệm trên động vật và người vào trung tuần tháng 4/2020 (dù công bố của Trung Quốc là đang tiến hành thử nghiệm trực tiếp trên người); dự báo lạc quan nhất là vaccine chính thức đại trà sẽ có mặt trên thị trường vào tháng 10/2020, tuy nhiên người ta cho rằng, nó chỉ có thể có được sau đây khoảng trên dưới 12 tháng nữa. Thuốc đặc trị cho SARS-CoV-2 vẫn còn chưa có, hiện người ta vẫn đang sử dụng những phác đồ điều trị khác nhau cho các bệnh nhân với những loại thuốc vốn hiệu quả cho điều trị virus nói chung (kể cả với HIV) và các loại SARS-CoV hay MERS-CoV gần đây.

Nhìn chung, giờ đây các nhà khoa học toàn cầu đang rất nỗ lực khẩn trương nghiên cứu về SARS-CoV-2, hy vọng nhân loại sẽ sớm có thành tựu lạc quan trong việc chống lại SARS-CoV-2. Trong khi chờ đợi vaccine và các thuốc đặc trị hiệu quả cho SARS-CoV-2 thì từ khóa nên là: “HÃY GIỮ CƠ THỂ MẠNH KHỎE!”. Nếu chăm chút kỹ bản thân và tuân thủ những biện pháp phòng ngừa an toàn, sẽ khó bị nhiễm bệnh hơn nhiều, bởi vì loại thuốc tốt nhất - đó chính là một hệ miễn dịch tốt.

File