Quan hệ Việt Nam - Australia - Từ “Friendship” đến “Mateship”: Tương lai là hành động
File

Chuyến thăm của Thủ tướng Paul Keating năm 1994 đặt nền móng cho quan hệ kinh tế - thương mại và đối tác giữa hai nước trong bối cảnh Việt Nam đang ở ngưỡng cửa hội nhập khu vực và bình thường hóa quan hệ với Mỹ.  

Bài viết này sẽ điểm lại quá trình phát triển quan hệ ngày càng sâu rộng và đặc biệt giữa Việt Nam - Australia trong gần nửa thế kỷ qua. Từ những phân tích, bài viết cho rằng quan hệ giữa hai nước trước hết là dựa trên yếu tố lịch sử, được gắn kết và phát triển dựa trên lợi ích quốc gia dân tộc qua từng giai đoạn. Khuôn khổ và phương hướng quan hệ giữa hai nước đã được xác định, nhận thức chung về lợi ích chiến lược đã rõ, nhưng tương lai phụ thuộc vào quyết tâm chính trị và hành động của cả hai chính phủ.

Quan hệ Việt Nam - Australia từ 1973 đến trước Đổi Mới ở Việt Nam: Từ “kẻ thù” thành “bạn”

Lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Australia gắn với sự can dự của Australia vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam mà nhiều người gọi là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 (1954 - 1975) và sự chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Australia hướng vào khu vực Đông Nam Á từ khi liên bang Australia ra đời năm 1901. Cũng giống như Mỹ và một số nước khác từng ở bên kia chiến tuyến trong cuộc chiến tranh Việt Nam, sự khởi đầu của quan hệ Việt Nam và Australia bằng một chương lịch sử đau buồn, song khi hai bên dũng cảm gác lại quá khứ đau buồn này, vượt lên và biết tận dụng cái “duyên” theo cách hiểu của giáo lý đạo Phật thì nó lại trở thành nền tảng của sự hiểu biết và gắn kết giữa hai dân tộc mà không phải mối quan hệ song phương giữa hai quốc gia nào cũng có.

Sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 kết thúc và “Chiến tranh Lạnh” bắt đầu, Việt Nam và Australia nằm ở 2 phía của cuộc đối đầu giữa “Đông và Tây”. Australia nằm trong số 5 nước đồng minh của Mỹ bao gồm cả Thái Lan, Phillipines, Hàn Quốc, và New Zealand trực tiếp ủng hộ Mỹ can dự vào cuộc chiến này. Từ năm 1965 đến 1970, khoảng 50.000 người Australia có mặt ở miền Nam Việt Nam với những nhiệm vụ khác nhau như trực tiếp tham chiến, hoặc tham gia hoạt động nhân đạo như cứu thương hay dạy học. Đến cuối năm 1972, Australia rút những cố vấn quân sự cuối cùng về nước sau khi Mỹ đã có quyết định và hành động tương tự. Cũng trong thời gian này, chính phủ mới ở Canberra nhận được đề nghị từ Hà Nội cải thiện quan hệ hai nước và đã có phản ứng tích cực tức thì, đồng thời còn bày tỏ thiện chí sẵn sàng giúp Việt Nam phục hồi và khắc phục hậu quả do chiến tranh tàn phá.

Ngày 28/7/1973, Bruce Woodberry với tư cách đại biện lâm thời của Australia có mặt tại Hà Nội, đánh dấu việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Australia và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), sau này là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN, 2/7/1976) khi Việt Nam đã thống nhất. Cần nhớ lại rằng năm 1973, Australia không phải là nước phương Tây duy nhất hay thuộc phe tư bản chủ nghĩa thiết lập và có quan hệ ngoại giao với VNDCCH khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam vẫn chưa kết thúc. Ở châu Âu, nhiều nước không thuộc phe xã hội chủ nghĩa đã thiết lập quan hệ ngoại giao, thậm chí là quan hệ ngoại giao đặc biệt, với chính phủ Hà Nội trước cả Australia như Bỉ (3/1973), Italia (3/1973), Anh (4/1973), Phần Lan (1/1973) và Pháp (4/1973). Tuy nhiên, điều đặc biệt ở chỗ trong số 5 nước đồng minh của Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, Australia là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với VNDCCH (Thái Lan: 8/1976, Phillipines: 7/1976, Hàn Quốc: 12/1992 và New Zealand: 6/1975).

File
File

Con đường đi đến quan hệ ngoại giao chính thức và đầy đủ giữa hai nước không dễ dàng, thậm chí ngay cả sau khi hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao, phải đến gần hai năm sau đại sứ đầu tiên của Australia mới có mặt tại Hà Nội (3/1975). Thủ tướng Australia Gough Whitlam (1972 - 1975), người tích cực ủng hộ thiết lập quan hệ ngoại giao giữa 2 nước, đã mô tả rằng việc thiết lập quan hệ gần gũi với Việt Nam là “một trong những công việc khó khăn nhất” đối với ngoại giao Australia, nhưng sẽ là sai lầm nếu cô lập Việt Nam. Chính vì đây là “công việc khó khăn nhất” nên quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, dũng cảm và có tầm nhìn không chỉ vì những trở ngại về ý thức hệ và sự khác biệt về chế độ chính trị mà còn bởi cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn chưa kết thúc.  

Với Australia, về đối nội, sự can dự và tham gia đến mức độ nào vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã từng gây chia rẽ xã hội. Nó trở thành chủ đề trong các cuộc bầu cử, rõ nhất là liên quan đến lá phiếu ủng hộ của cử tri với các chính đảng và mang tính quyết định trong bầu cử liên bang năm 1972. Về đối ngoại, với tư cách là đồng minh của Mỹ, việc thiết lập quan hệ ngoại giao với “quốc gia kẻ thù” khi chiến tranh còn đang tiếp diễn đã tạo ra khoảng cách và bất hòa nhất định với Mỹ. Thực vậy, Australia đã phải cân nhắc về thời điểm. Các nhà hoạch định chính sách ở Canberra lo ngại rằng nếu Australia xúc tiến quan hệ ngoại giao với VNDCCH quá sớm thì có thể khiến Mỹ mếch lòng, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ với chính quyền miền Nam Việt Nam, và gây hiểu nhầm cho các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).  

Bộ Ngoại giao Australia (DFA) đã thể hiện một tầm nhìn chiến lược khi đưa ra những lập luận ủng hộ việc bình thường hóa quan hệ giữa Canberra và Hà Nội. Theo DFA, thứ nhất, miền Bắc Việt Nam, nghĩa là VNDCCH, có tiềm năng trở thành một cường quốc kinh tế và chính trị ở khu vực và Australia có lợi ích thương mại dài hạn ở đó. Thứ hai, việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao này còn là cơ hội thể hiện một cách tiếp cận độc lập hơn (với Mỹ và Anh) trong các vấn đề chính sách đối ngoại của Australia. Và thứ ba, lợi ích của việc Australia có đại diện ngoại giao tại Hà Nội là đảm bảo việc quản lý và thực hiện chương trình cứu trợ quốc tế và tái thiết ở Đông Dương nói chung, nhất là sau khi chiến tranh kết thúc, được tốt và hiệu quả. Trên thực tế, sau khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phái đoàn ngoại giao của Australia tại Hà Nội trở thành đầu mối liên lạc quan trọng giữa phương Tây với chính quyền Việt Nam liên quan đến công dân của những nước phương Tây không có đại diện ngoại giao tại Hà Nội.

Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, Australia đã tăng dần viện trợ qua từng năm cho Việt Nam dưới hình thức trợ giúp kinh tế. Năm 1974, Australia chấm dứt cấm vận thương mại với VNDCCH và ký một hiệp định thương mại song phương. Sau khi Việt Nam thống nhất, ngân sách viện trợ của Australia dành cho đào tạo và cung cấp hàng hóa lên tới gần 7 triệu đô la, và quan hệ thương mại song phương cũng được tăng cường. Cũng trong giai đoạn này, Australia đã tiếp nhận và cấp học bổng cho những du học sinh Việt Nam đầu tiên. Số người Việt Nam sang định cư ở Australia dưới nhiều hình thức khác nhau cũng tăng dần qua từng năm.

Sau khi Việt Nam thống nhất, trong khi Mỹ tiếp tục từ chối thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà nước CHXHCNVN, Canberra dưới chính phủ liên đảng tự do - dân tộc vẫn tiếp tục thúc đẩy quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam. Năm 1977, Australia đã không đứng về phe với Mỹ phủ quyết việc Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc. Bộ trưởng Ngoại giao của Australia khi đó, Andrew Peacock, đã phát biểu trước Quốc hội rằng, chính phủ không những không muốn thấy các nước Đông Dương (gồm Campuchia, Lào, và Việt Nam) bị cô lập mà còn muốn các nước này “tham gia các hoạt động hòa bình để góp phần đem lại sự tiến bộ về kinh tế và quan hệ hòa hợp trong khu vực”. Trên tinh thần đó, Australia khuyến khích Việt Nam tham gia các cơ chế của Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực. Sự ủng hộ này của Australia đối với Việt Nam cũng làm gia tăng khoảng cách giữa Australia và Mỹ trong vấn đề quan hệ với Việt Nam. Nhưng điều này cho thấy Canberra đã thể hiện lập trường độc lập hơn trong chính sách đối ngoại với Đông Nam Á, với các nước láng giềng trong khu vực, với Việt Nam, và rằng Australia đã không đi theo cách Mỹ để thực sự kết thúc cuộc chiến tranh mà vì nó xã hội Australia từng bị chia rẽ.

Trong các năm cuối thập kỷ 1970, hai nước đã tiến hành trao đổi nhiều đoàn quan chức cấp cao; chương trình viện trợ của Australia cho Việt Nam trong nỗ lực giúp Hà Nội phục hồi trong tình hình chiến tranh vẫn tiếp diễn; thương mại song phương tăng; số sinh viên Việt Nam sang học tại các cơ sở giáo dục của Australia ngày càng nhiều. Tuy nhiên, từ đầu năm 1979 cho đến gần giữa thập kỷ 1980s, quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Australia và Việt Nam bị ngưng trệ do tác động trực tiếp của việc Việt Nam phản kích tự vệ và đưa quân sang Campuchia giúp xóa bỏ chế độ diệt chủng Khơmer Đỏ và lưu quân tại đó để hỗ trợ chính phủ mới ở Phnom Penh giữ ổn định trật tự và xây dựng chính quyền. Tuy Australia ngừng chương trình viện trợ trực tiếp cho Việt Nam, nhưng vẫn cho phép viện trợ gián tiếp vì mục đích nhân đạo thông qua các tổ chức phi chính phủ Australia và các cơ quan của Liên hợp quốc.  

Sang năm 1983, cùng với những chuyển biến chính trị trong vấn đề Campuchia, chính phủ Australia đã có bước chuyển về chính sách trong quan hệ với Việt Nam, thay đổi cách đánh giá về sự can dự của Việt Nam ở Campuchia, cho rằng việc chỉ lên án Việt Nam là quá thiên lệch. Trên tinh thần đó, Bộ trưởng Ngoại giao Australia Bill Hayden, người sau này trở thành Toàn quyền Australia, đã đến Việt Nam và bàn thảo về việc nối lại quan hệ song phương giữa hai nước. Một năm sau, 1984, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch sang thăm Australia và gặp gỡ các quan chức của Australia, bao gồm cả Thủ tướng Australia Bob Hawke, để thúc đẩy bình thường hóa quan hệ song phương. Cùng với việc tìm kiếm một mối quan hệ “mạnh mẽ”, Canberra cũng khuyến khích Việt Nam hội nhập với khu vực. Năm 1986, Việt Nam tiến hành Đổi Mới, mở đường cho đất nước hội nhập với khu vực và thế giới. Quan hệ Việt Nam và Australia cũng theo đó phát triển không ngừng sau khi đã vượt qua cái bóng của lịch sử bằng quyết tâm chính trị và sự điều chỉnh về chính sách đối ngoại, đưa quan hệ hai nước đi từ “kẻ thù” trở thành “bạn”. 

File
File

Quan hệ Việt Nam - Australia từ 1986 đến 2017: Từ bạn thành đối tác toàn diện

Nhu cầu và chính sách Đổi Mới cuối năm 1986 đưa đến bước ngoặt quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam hướng tới hội nhập khu vực và mở rộng quan hệ đối ngoại trên toàn thế giới, bình thường hóa và tăng cường quan hệ với các nước lớn, trong đó có cả các nước cựu thù. Với Australia, sau khi Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia vào ngày 26/9/1989, và thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế, những rào cản trong quan hệ song phương đã được gỡ bỏ. Ngay khi Việt Nam thực hiện chính sách “mở cửa”, Australia đã ưu tiên và khuyến khích các sáng kiến nhằm nâng cao năng lực của Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới. Tháng 6 năm 1990, hai nước ký Hiệp định Hợp tác Kinh tế và Thương mại, và thành lập Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế và Thương mại chịu trách nhiệm đánh giá hằng năm về quan hệ kinh tế và thương mại song phương. Tháng 10/1991, Australia khôi phục viện trợ trực tiếp song phương cho Việt Nam.  

Năm 1993, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt trở thành thủ tướng đầu tiên của Việt Nam thống nhất thăm Australia, và một năm sau, 1994, Thủ tướng Australia Paul Keating có chuyến thăm đáp lễ. Thủ tướng Paul Keating trở thành thủ tướng Australia đầu tiên và là nguyên thủ quốc gia phương Tây thứ hai đến thăm nước Việt Nam thống nhất sau chiến tranh. Trong chuyến thăm này, Thủ tướng Keating đã thông báo rằng, Australia sẽ tăng gấp đôi cam kết viện trợ cho Việt Nam trong vòng 4 năm với tổng giá trị lên tới 200 triệu USD, tập trung vào các dự án về y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng và đào tạo pháp lý. Nổi bật nhất trong số các dự án này là dự án chung của chính phủ hai nước xây dựng cầu Mỹ Thuận, chiếc cầu đầu tiên bắc qua sông Mekong ở miền Nam Việt Nam, với tổng giá trị lên tới 80 triệu đô-la, trong đó phía Australia tài trợ 66% và chính phủ Việt Nam góp 34%. Cầu Mỹ Thuận cho đến nay vẫn là biểu tượng của mối quan hệ hữu nghị mạnh mẽ giữa Australia và Việt Nam. Cũng trong năm 1994, Australia khai trương lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh để hỗ trợ đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa hai nước. Dấu mốc lịch sử trong quan hệ hai nước là chuyến thăm Australia của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Tổng Bí thư Đỗ Mười, đầu tháng 8 năm 1995, theo lời mời của Thủ tướng Paul Keating. Điều đặc biệt là chuyến thăm diễn ra vài ngày sau khi Việt Nam được kết nạp trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN (28/7/1995), gần một tháng sau bình thường hóa quan hệ với Mỹ (11/7/1995), và với Tổng Bí thư Đỗ Mười thì đó mới chỉ là chuyến đi nước ngoài thứ hai của ông trên cương vị người đứng đầu ĐCSVN. Điều này cho thấy Việt Nam dành ưu tiên đặc biệt quan hệ với Australia. Trong chuyến thăm này, hai bên đã thảo luận về nhiều vấn đề, trong đó trọng tâm là tăng cường thương mại và đầu tư.  

Trong hai thập niên tiếp theo, quan hệ hai nước không chỉ là “quan hệ đối tác” bình thường mà đã phát triển sâu rộng và được nâng lên thành “Quan hệ đối tác toàn diện” nhân chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư ĐCSVN Nông Đức Mạnh, tháng 9 năm 2009, và tiếp tục được củng cố bằng Tuyên bố về “Tăng cường Quan hệ đối tác toàn diện” nhân chuyến thăm Australia của Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, tháng 3 năm 2015. “Quan hệ đối tác toàn diện” giữa hai nước bao trùm 6 lĩnh vực hợp tác, nhưng trên hết tập trung vào 4 trụ cột: (1) thương mại, đầu tư và hợp tác kỹ thuật; (2) chính trị, an ninh và quốc phòng; (3) văn hóa, giáo dục, trợ giúp phát triển và giao lưu nhân dân; và (4) các vấn đề quốc tế và khu vực.

Quan hệ kinh tế và thương mại được xem là ưu tiên trong phát triển quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn này. Về đầu tư, trong giai đoạn 1988 - 1991, Australia là 1 trong số 5 nước có dự án đầu tư nhiều nhất ở Việt Nam với tổng giá trị lên tới 300 triệu đô-la. Đây không phải số vốn đầu tư lớn, nhưng lại rất có ý nghĩa khi ở Việt Nam giai đoạn này hầu như không có dự án đầu tư nào từ các nước phương Tây. Tập đoàn Ngân hàng ANZ là ngân hàng đầu tiên trong số các quốc gia nói tiếng Anh hoạt động ở Việt Nam, mở chi nhánh tại Hà Nội năm 1993, và đưa dịch vụ ATM đầu tiên ở Việt Nam vào hoạt động năm 1995. Công ty luật Phillips Fox là công ty luật nước ngoài đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động ở Hà Nội và đã đóng vai trò lớn trong việc biên tập và xuất bản luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam bằng tiếng Anh. Một loạt các công ty khác của Australia cũng đi đầu trong hợp tác làm ăn với các đối tác Việt Nam như Tập đoàn viễn thông OTC (sau này là Telstra) hợp tác với Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam phát triển hạ tầng truyền thông, Tập đoàn Dầu khí BHP hợp tác với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phát triển dự án khai tác dầu khí ở mỏ Đại Hùng. Năm 1998, Viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) được cấp phép mở trường đại học đầu tiên của nước ngoài ở Việt Nam, và trường Đại học Swinburne là một trong những trường đại học đầu tiên được phép mở chương trình đào tạo ở Việt Nam trong thập kỷ 1990. Năm 2008, Australia mới có 174 dự án đầu tư ở Việt Nam với tổng giá trị là 1,01 tỷ USD, nhưng đến cuối năm 2017, số dự án tăng lên 407 với tổng giá trị khoảng 2 tỷ USD. Bên cạnh đó, Australia cũng là một trong số các nhà cung cấp vốn ODA lớn nhất cho Việt Nam với khoảng 150 triệu USD mỗi năm.

Thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Australia tăng mạnh một cách ngoạn mục trong ba thập kỷ kể từ khi Việt Nam mở cửa. Kim ngạch thương mại hai nước chỉ khoảng 8 triệu USD năm 1988 nhưng đã tăng lên đạt 32,3 triệu USD năm 1990. Con số này tiếp tục tăng và đạt 2,6 tỷ USD năm 2001, 4,2 tỷ USD năm 2006, 6 tỷ USD năm 2014, và xấp xỉ 10,1 tỷ USD năm 2017. Tính đến cuối năm 2017, Australia là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Việt Nam, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 15 của Australia. Năm 2017, Việt Nam xuất sang Australia đạt 4,9 tỷ USD, và nhập khẩu từ Australia tổng giá trị là 4,6 tỷ USD. Hai nước cũng đã sớm mở các chuyến bay trực tiếp, tạo điều kiện cho hoạt động thương mại và giao lưu nhân dân giữa hai nước.  

Hoạt động giao lưu nhân dân được hai nước đánh giá là “diễn ra ở tất cả các cấp độ xã hội và liên quan đến nhiều cơ quan và tổ chức như doanh nghiệp, học thuật, truyền thông, văn hóa và phi chính phủ, các tổ chức hữu nghị và thể thao”. Giáo dục và đào tạo dưới nhiều hình thức được xem là cầu nối quan trọng trong việc tăng cường giao lưu nhân dân. Thực hiện thỏa thuận quan hệ đối tác toàn diện, hai bên đã ký Biên bản Ghi nhớ về Hợp tác trong Giáo dục và Đào tạo (1994 và 2013), lập Nhóm Công tác Chung về Giáo dục và Đào tạo. Có thể nói, Australia là một trong những thị trường giáo dục nước ngoài thu hút nhiều sinh viên Việt Nam nhất. Năm 2015, ước tính khoảng 30.000 sinh viên Việt Nam học ở các cấp và loại hình khác nhau ở Australia. Việt Nam cũng trở thành điểm đến ngày càng phổ biến đối với sinh viên Australia tham gia các khóa học ngắn hạn và trao đổi sinh viên theo chương trình Kế hoạch Colombo Mới. Trong giai đoạn 2008 - 2013, hơn 13.000 sinh viên Australia đã sang Việt Nam theo chương trình này.

Trong bức tranh sôi động hoạt động giao lưu nhân giữa hai nước phải kể đến cộng đồng người Việt sinh sống và làm việc tại Australia, và số lượng du khách Australia sang Việt Nam. Dân số cộng đồng người Việt ở Australia biến động qua từng giai đoạn, nhưng là một trong những cộng đồng lớn ở quốc gia này. Theo số liệu của Cục Thống kê Australia, số người Việt ở Australia năm 2001 là 154.830, chiếm 3,8% dân số Australia, đứng thứ 4 trong số cộng đồng nhập cư lớn nhất ở nước này. Đến năm 2016, con số này là 219.351, chiếm 3,6% và đứng thứ 6. Hàng năm có hàng vạn Việt kiều ở Australia về Việt Nam thăm thân và làm ăn, trong khi số người Việt Nam sang du lịch và thăm thân ở Australia cũng tăng. Năm 2010, 37.000 người Việt Nam đi du lịch sang Australia, 26.803 du khách Australia sang Việt Nam. Cuối năm 2017, số người Australia sang du lịch Việt Nam tăng lên là 32.906 người.

Hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh và quốc phòng thể hiện mức độ tin cậy ngày càng cao theo khuôn khổ đối tác toàn diện, trong đó nổi bật là việc thường xuyên thực hiện trao đổi đoàn cấp cao song phương. Trong giai đoạn từ 1990 đến 2017, hầu như năm nào hai bên cũng trao đổi đoàn cấp cao từ cấp bộ trưởng trở lên, thậm chí có thời điểm nhiều lãnh đạo cấp cao Việt Nam sang thăm Australia trong cùng năm như đoàn Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, và các Phó Thủ tướng (2008); hay, đoàn Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng và một số Ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2017). Còn về phía Australia, có năm không chỉ có đoàn của Thủ tướng mà còn có tới 6 đoàn bộ trưởng khác nhau sang thăm và làm việc với các đối tác Việt Nam (2006); hay các đoàn của Toàn quyền (2011), Chủ tịch Hạ viện (2009, 2013, 2014). Xét trong bối cảnh khi hai nước chưa phải là đối tác chiến lược ở giai đoạn này thì độ dày và cường độ các chuyến thăm cấp cao song phương như vậy là đặc biệt hơn so với một số nước đã thiết lập quan hệ chiến lược với Việt Nam. Sự tin cậy chính trị giữa hai bên còn thể hiện qua sự hợp tác và tham vấn lẫn nhau trong các cơ chế và trên các diễn đàn đa phương như các hoạt động trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn An ninh khu vực (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN với các đối tác (ADMM +), Thượng đỉnh Đông Á (EAS).

Tháng 4 năm 1998, hai nước tiến hành tổ chức đối thoại song phương đầu tiên về các vấn đề an ninh khu vực. Hai nước chính thức được thiết lập quan hệ quốc phòng từ tháng 2 năm 1999 với việc Australia cử tùy viên quân sự sang Hà Nội; và tháng 9 năm 2000, Việt Nam cử tùy viên quân sự sang Caberra. Đối thoại hợp tác quốc phòng Việt Nam -  Australia được hai bên lần đầu tổ chức vào tháng 4 năm 2001, và diễn ra hàng năm từ đó đến nay. Trong các năm 2004 - 2005, hai bên tiến hành trao đổi đoàn cấp bộ trưởng quốc phòng. Tháng 10 năm 2010, bộ trưởng quốc phòng hai nước đã ký Biên bản Ghi nhớ về Hợp tác Quốc phòng, tạo khuôn khổ cho việc “tăng cường hợp tác thiết thực giữa Australia và Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, bao gồm cả đối thoại chính sách cấp chiến lược, tập trận và đào tạo quân sự, hỗ trợ nhân đạo, và cứu trợ thiên tai”. Năm 2012, hai nước nâng cấp cơ chế Đối thoại An ninh Khu vực (1998) thành Đối thoại Chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng Việt Nam - Australia cấp thứ trưởng (Đối thoại chiến lược 2+2). Và từ năm 2013, đúng dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai nước tổ chức Đối thoại Thường niên cấp Bộ trưởng Quốc phòng.

Các hoạt động giao lưu quốc phòng song phương diễn ra dưới nhiều hình thức, trong đó nổi bật nhất là thăm hữu nghị của các tàu chiến thuộc lực lượng Hải quân Hoàng gia Australia đến một số thành phố của Việt Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, và Khánh Hòa. Từ năm 1999, hầu như năm nào hải quân hoàng gia Australia cũng cử tàu chiến thăm hữu nghị Việt Nam. Chương trình hợp tác quốc phòng giữa hai bên mở rộng sang việc Australia đào tạo nhân lực cho quân đội Việt Nam. Trong vòng 10 năm, từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ quốc phòng, khoảng 1.000 sĩ quan quân đội Việt Nam đã tham gia các khóa đào tạo về các chủ đề ở các cấp và trình độ khác nhau ở Việt Nam hoặc ở Australia thông qua chương trình hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh đó, Australia hợp tác và hỗ trợ mạnh mẽ Việt Nam tham gia và triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.  

Sự hợp tác giữa Việt Nam và Australia trong các vấn đề quốc tế và khu vực xuất phát từ “sự năng động hiện nay của khu vực và mối quan hệ song phương đã lớn mạnh hơn”. Trong Tuyên bố về Tăng cường Quan hệ đối tác toàn diện (năm 2015), hai nước khẳng định có chung quan tâm về vấn đến an ninh, sự ổn định và phát triển của khu vực, và cùng “hưởng lợi từ một môi trường khu vực an ninh và ổn định, tôn trọng chủ quyền và pháp luật quốc tế”. Trong tuyên bố này, Việt Nam và Australia cam kết sẽ “tiếp tục hợp tác cùng nhau để định hình tương lai của khu vực và rộng hơn là môi trường toàn cầu” thông qua các cơ chế đa phương như ASEAN, APEC, và EAS. Trong những vấn đề khu vực nổi lên mà cả hai cùng quan tâm và quan ngại là những tranh chấp trên Biển Đông. Tuy Australia không phải là bên tuyên bố có chủ quyền ở Biển Đông, nhưng lại có lợi ích chiến lược và cốt lõi ở đây. Xét từ góc độ địa chiến lược, Australia là nước có vị trí gần Đông Nam Á nhất; còn lợi ích cốt lõi chính là một môi trường khu vực ổn định lâu dài cho sự phát triển của Australia. Nói cách khác, mọi diễn biến tiêu cực ở khu vực này cũng sẽ tác động tiêu cực ngay và trực tiếp đến an ninh quốc gia của Australia. Cả hai nước có quan điểm tương đồng và nhất trí về sự cần thiết phải đảm bảo tự do và an ninh hàng hải, hàng không, và tuân thủ luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Hai bên cũng nhất trí rằng mọi tranh chấp phải được giải quyết một cách hòa bình và không đe dọa hay sử dụng vũ lực.

Quan hệ đối tác Việt Nam - Australia không chỉ thể hiện tầm nhìn mà còn là mong muốn của lãnh đạo hai nước như thủ tướng Paul Keating đã nói tại một buổi gặp gỡ nhanh với các phóng viên sau hội đàm với Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười ở bang Queensland năm 1995 rằng điều mà Australia mong muốn tìm kiếm với Việt Nam “không phải chỉ là một mối quan hệ, mà là một quan hệ đối tác”.

File

Quan hệ Việt Nam - Australia từ 2018 đến nay: Từ “đối tác toàn diện” thành “đối tác chiến lược”  

Theo Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia hàng đầu về Việt Nam tại Học viện Quốc phòng thuộc Đại học New South Wales của Australia, vấn đề nâng cấp quan hệ Việt Nam và Australia thành đối tác chiến lược đã được hai bên bàn luận và xem xét từ năm 2008. Đến năm 2013, nhân dịp đánh dấu 40 năm quan hệ ngoại giao hai nước, một số học giả cũng đã đề xuất hai bên nên nâng cấp quan hệ thành đối tác chiến lược. Tuy nhiên, phải đến 5 năm sau, hai nước mới chính thức chuyển từ “đối tác toàn diện” sang “đối tác chiến lược” vào tháng 3 năm 2018 trong chuyến thăm chính thức Australia của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc sau khi hai bên đã đạt được sự đồng thuận về việc nâng cấp quan hệ bên lề hội nghị thượng đỉnh APEC tại Đà Nẵng tháng 11 năm 2017. Trong khối ASEAN, Việt Nam là nước thứ 4 có quan hệ đối tác chiến lược với Australia, sau Indonesia, Malaysia và Singapore.  

Nếu như năm 2008 và 2013 có thể tình hình khu vực chưa tạo ra cú hích nhận thức nhu cầu, đặc biệt từ phía Australia, về mối quan hệ chiến lược giữa hai bên, thì một loạt những sự kiện phức tạp liên quan đến an ninh khu vực và những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã tạo động lực cho hai nước nâng cấp quan hệ. Những nhân tố thúc đẩy động lực này gồm: Trung Quốc triển khai giàn khoan HD-981 xâm phạm vùng biển của Việt Nam (năm 2014); phát triển các đảo nhân tạo và quân sự hóa các đảo này, biến chúng thành các tiền đồn quân sự trên biển, bất chấp đã cam kết không quân sự hóa (năm 2015) và liên tiếp có những hành động hung hăng hơn trong tranh chấp chủ quyền với các nước liên quan trên Biển Đông; đẩy mạnh triển khai “Sáng kiến Vành đai, Con đường” nhằm gia tăng ảnh hưởng trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu (từ năm 2013). Trong khi đó, sau khi vào Nhà Trắng, chính quyền của tổng thống Mỹ Donald Trump đã triển khai chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và tăng cường sự hiện diện ở Biển Đông.

Xét về tổng thể, những nội dung của quan hệ đối tác chiến lược vẫn dựa trên những trụ cột của quan hệ đối tác toàn diện trước đó. Tuy nhiên, quy mô thực hiện những nội dung này được phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng. Ngoài ra, có một số điểm mới nổi bật và có ý nghĩa chiến lược so với quan hệ đối tác toàn diện trước đó. Điểm mới thứ nhất là việc hai nước không chỉ tôn trọng “độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau” mà còn tôn trọng “hệ thống chính trị của nhau”. Tuyên bố này có ý nghĩa cả về mặt đối nội và chính trị đối ngoại với Việt Nam.

Thứ hai là thiết lập cơ chế họp thường niên cấp bộ trưởng ngoại giao để “tăng cường hợp tác chính trị song phương về các vấn đề đối ngoại và khu vực”.  

Thứ ba là thiết lập Hội nghị Đối tác Kinh tế thường niên cấp bộ trưởng để thay cho Ủy ban Hợp tác Kinh tế và Thương mại chung được thành lập từ năm 1990. Hội nghị này không đóng vai trò là cơ chế giám sát nữa mà trở thành diễn đàn tạo điều kiện cho “các cuộc thảo luận giữa các bộ trưởng phụ trách về thương mại, đầu tư, phát triển và lập kế hoạch”.  

Thứ tư là tăng cường trao đổi và chia sẻ thông tin tình báo, hợp tác an ninh. Đây là hoạt động chỉ diễn ra giữa các đối tác chiến lược có sự tin cậy chính trị cao. Lần đầu tiên hai nước thiết lập cơ chế Đối thoại An ninh hàng năm cấp Thứ trưởng và cuộc họp lần thứ nhất đã diễn ra vào tháng 11/2018. Ngoài ra, hai bên cũng khẳng định lại cam kết thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng chặt chẽ hơn. Tháng 11/2018, bộ trưởng quốc phòng hai nước họp tại Sydney và ký Tuyên bố tầm nhìn chung về thúc đẩy hợp tác quốc phòng, trong đó mở rộng hợp tác an ninh hàng hải và hoạt động gìn giữ hòa bình. Trên tinh thần thỏa thuận này, Australia đã tích cực hỗ trợ Việt Nam trong vận chuyển lực lượng gìn giữ hoà bình LHQ ra nước ngoài khi hỗ trợ chuyển bệnh viện dã chiến cấp 2 sang Nam Sudan. Các tàu chiến của lực lượng Hải quân Hoàng gia Australia tiếp tục có các chuyến thăm hữu nghị cập cảng Thành phố Hồ Chí Minh (4/2018) và lần đầu tiên 2 tàu thăm cảng Cam Ranh (5/2019).  

Quan hệ đối tác chiến lược cũng tạo điều kiện cho phát triển mạnh mẽ hơn các hoạt động thương mại và đầu tư song phương. Cuối năm 2018, Việt Nam là bạn hàng lớn thứ 4 của Australia trong ASEAN (tăng 1 bậc so với năm 2017), Australia là đối tác thương mại lớn thứ 7 của Việt Nam; kim ngạch thương mại hai nước năm 2018 đạt 7,712 tỷ USD (tăng 19,3% trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 4 tỷ USD, tăng 20,9% và nhập khẩu đạt hơn 3,7 tỷ, tăng 17,8%) và 6 tháng đầu năm 2019 đạt 3,84 tỷ USD (tăng 6,1% so với cùng kỳ 2018). Tính đến nay, Australia có 458 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư gần 2 tỷ USD, đứng thứ 20/131 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Trong khi đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Australia hơn. Việt Nam hiện có 53 dự án đầu tư trực tiếp vào Australia với tổng giá trị đạt hơn 247 triệu USD, trong đó nổi bật là dự án mua trang trại chăn nuôi gia súc trị giá 135 triệu USD của tập đoàn TH. Hai nước đặt ra mục tiêu sớm trở thành 1 trong 10 đối tác thương mại hàng đầu của nhau. 

File

Tương lai là hành động

Trong chuyến thăm Việt Nam của thủ tướng Scott Morrison, hai bên đã ra tuyên bố chung, khẳng định tăng cường quan hệ đối tác chiến lược và hướng tới đưa quan hệ song phương lên tầm cao hơn. Đáng lưu ý là những phát biểu của Thủ tướng Morrison tại các dịp khác nhau trong chuyến thăm đã phác thảo ra hướng đi cho một mối quan hệ sâu sắc hơn giữa Việt Nam và Australia trong tương lai, và nó sẽ còn có ý nghĩa hơn những gì thể hiện trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Đó là tình bạn. Lý giải theo cách nói của Thủ tướng Morrison thì tình bạn đó không phải là tình bạn hữu nghị thông thường (friendship) mà là tình bạn thân thiết và gắn bó với nhau (mateship). Thủ tướng Morrison giải thích, “mate” ở đây có nghĩa là “bạn gắn bó với nhau, bạn cảm thông với nhau, bạn cùng nhau vượt qua những vấn đề khó khăn, vượt qua hoạn nạn, bạn tạo cơ hội cùng nhau, và luôn gắn bó với nhau để theo đuổi những cơ hội đó cùng nhau”. Trong văn hóa Australia, gọi nhau và coi nhau là “mate” thể hiện sự gần gũi và thân thiết, nhưng trong quan hệ song phương giữa hai quốc gia thì đó là điều đặc biệt.  

Nhìn lại quan hệ ngoại giao giữa Việt và Australia trong 46 năm qua kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973, có thể nói quan hệ Việt Nam và Australia đang ở thời điểm phát triển tốt đẹp chưa từng có. Và với những gì lãnh đạo hai nước thể hiện trong chuyến thăm của Thủ tướng Morrison, có thể mong đợi quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước sẽ đi vào chiều sâu hơn nữa, chẳng hạn như không phải chỉ là đối tác chiến lược mà sẽ là đối tác chiến lược toàn diện, hay đối tác chiến lược đặc biệt, và thậm chí có thể ở mức cao hơn là trở thành đồng minh tương trợ trong thế kỷ 21. Có nhiều lý do để lạc quan về mối quan hệ như vậy, nhưng có 1 cơ sở chính sau để hy vọng, đó là: thứ nhất, lịch sử gắn kết hai dân tộc; thứ hai, vị trí địa chính trị và hơn thế nữa là sự trùng hợp về lợi ích chiến lược và viễn kiến về một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mở và tự do; thứ ba, tiềm năng quan hệ kinh tế - thương mại. Khuôn khổ và phương hướng quan hệ giữa hai nước đã được xác định, nhận thức chung về lợi ích chiến lược đã rõ, nhưng tương lai phụ thuộc vào quyết tâm chính trị và hành động của cả hai chính phủ.