Mất cân bằng giới tính nghiêm trọng dưới góc nhìn xã hội học

Tại Hội nghị lần thứ 6, khóa XII (tháng 10/2017), Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới, nêu rõ: “Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh đã ở mức nghiêm trọng”. Thông tin được đưa ra từ kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra về tỷ số giới tính khi sinh - SRB cho thấy sự mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam ở mức cao (năm 2018: 114,8 bé trai/100 bé gái; năm 2019: 111,5 bé trai/100 bé gái). Và dường như chúng ta chưa có biện pháp hiệu quả để giải quyết thực trạng đó.  

Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội đã trao đổi với phóng viên về nội dung này, dưới góc nhìn xã hội học, đặc biệt liên quan đến yếu tố văn hóa, lịch sử, địa lý vùng miền. 

File
File

Như các nhà lý thuyết cũng đã nói nhiều trên báo chí, thực trạng này sẽ gây ra hệ lụy là một loạt các vấn đề.  

Thứ nhất là việc dư thừa một lượng lớn đàn ông không thể tìm được người bạn đời, không thể kết hôn được. Thứ hai là xã hội sẽ có nhiều bạo lực vì dư thừa quá nhiều đàn ông ở một độ tuổi sung sức về mặt tình dục mà lại không tìm được bạn đời! Bạo lực tình dục sẽ xảy ra: hiếp dâm, quấy rối tình dục đối với phụ nữ… Thứ ba, nhiều người cứ nghĩ rằng khi trong xã hội hiếm con gái thì con gái chắc phải có giá trị lắm! Thế nhưng, sự thực không phải vậy. Lúc ấy người phụ nữ lại trở thành giống như một món hàng, một mục tiêu để người ta “săn đuổi”. Những bé gái 13 - 14 tuổi đã có người ngắm nghía, “chấm” là “đối tượng” của con trai họ, hay con trai nhà hàng xóm của họ... Trong bối cảnh như thế, phụ nữ sẽ khó có cơ hội học hành, thăng tiến, bởi họ bị “tấn công” và “săn đuổi” từ rất nhiều phía. Bên cạnh đó là nguy cơ bị rình rập, bắt cóc, mua bán... mà thực tế đã từng xảy ra.  

Hệ lụy thứ tư liên quan đến những vấn đề phúc lợi xã hội. Sẽ dư thừa hàng triệu đàn ông không có gia đình, việc chăm sóc hỗ trợ họ sẽ như thế nào đây, đặc biệt khi họ bước vào tuổi già? Và nó sẽ tạo ra một sự bất ổn trong xã hội.  

 

File

Cứ nhìn sang Trung Quốc là rõ. Mặc dù Việt Nam còn chưa trải qua những hệ lụy như vậy nhưng lại bị ảnh hưởng bởi nước láng giềng đang ở trong tình trạng quá thừa nam thiếu nữ. Bao nhiêu cô gái Việt Nam bị buôn bán sang bên đó, bị lừa dối, ép buộc phải kết hôn, bị bạo lực tình dục... Những chuyện đó đã xảy ra với Việt Nam hơn chục năm nay rồi.  

Ở Việt Nam, mất cân bằng giới tính đã xảy ra tại một số khu vực. Chẳng hạn, ở Đồng bằng sông Cửu Long hoặc một số địa phương, phụ nữ đi lấy chồng nước ngoài nhiều, đàn ông rất khó khăn trong việc kiếm vợ. Những người đàn ông nghèo không thể lấy được vợ ở địa phương mình. Ví dụ, ở một số địa phương miền Bắc, phụ nữ đi lấy chồng Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) rất nhiều. Ở những nơi đó, từ khoảng năm 2005 - 2010 đã xảy ra tình trạng đàn ông có hoàn cảnh gia đình không khấm khá rất khó lấy vợ. Họ thậm chí phải đi tìm vợ qua dịch vụ môi giới, chứ không thể tự tìm được vợ ở địa phương mình.

Việc thừa nam thiếu nữ bắt nguồn từ thực trạng - nói theo ngôn ngữ của Liên hợp quốc là “thực hành có hại trên cơ sở giới”. Đó là loại bỏ những thai nhi nữ, chỉ đẻ con trai thôi, trên cơ sở lựa chọn giới cụ thể.  

Ở Việt Nam, dự báo khoảng năm 2040 sẽ thiếu từ 2,5 triệu cho đến 4 triệu phụ nữ. Căn cứ trên số liệu Tổng điều tra dân số năm 2019, người ta dự đoán mỗi năm chúng ta thiếu hụt 46.000 bé gái lẽ ra được sinh ra nhưng lại không được sinh ra do thực hành giới có hại. Như vậy, trong 10 năm sẽ là bao nhiêu ngàn bé gái? Và tương đương chừng ấy người đàn ông sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn đời.  

 

File

Về địa lý, nước ta giáp với Trung Quốc, nên chịu sự xâm nhập, ảnh hưởng về văn hóa, đặc biệt là Nho giáo và Khổng giáo. Miền Bắc gần hơn, bị ảnh hưởng nặng hơn.  

Từ xa xưa cha ông ta đã chấp nhận Nho giáo như là hệ tư tưởng để cai trị đất nước và đất nước được xây dựng theo hệ tư tưởng Nho giáo. Hệ tư tưởng này coi trọng đàn ông và gia đình phụ hệ, đề cao vai trò của người đàn ông: đàn ông làm trụ cột gia đình, là người nối dõi tông đường...  

Lối sống định cư ở bên nội, con gái lấy chồng phải về nhà chồng, dẫn đến việc nếu chỉ có con gái thôi thì sau khi các con gái đi lấy chồng, bố mẹ già sống với ai? Văn hóa tôn trọng con trai, văn hóa thờ cúng tổ tiên, văn hóa định cư bên nội... tạo ra nhu cầu phải có con trai, tạo ra tâm lý thích con trai.  

Ở miền Bắc, do ảnh hưởng của Nho giáo nặng nề như thế cho nên tâm lý thích con trai được củng cố từ đời này qua đời khác.  

Ở miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, gốc gác lịch sử là văn hóa Đông Nam Á, thì không quá coi trọng con trai, mà cho rằng sinh con trai hay con gái đều tốt. Ví dụ: Ở miền Bắc người ta rất coi trọng vai trò của con trai trưởng, thường con trai trưởng sống cùng và chăm sóc cha mẹ; nhưng trong miền Nam thì không nhất thiết, cha mẹ có thể sống với con trai út, con trai út có thể chăm sóc cha mẹ. Ở miền Nam, nếu có con gái thì cha mẹ cũng sẵn sàng ở với con gái chứ không nhất thiết phải ở với con trai. Và người con rể cũng có thể thờ cúng cha mẹ vợ. Văn hóa Đông Nam Á cởi mở hơn là thế.  

 

File

Văn hóa là một nguyên nhân quan trọng, nhưng nguyên nhân thứ hai cũng quan trọng không kém, đó là kinh tế. Miền Nam từ xa xưa là mảnh đất được thiên nhiên ưu đãi, dễ sống hơn ở miền Bắc. Xưa miền Nam có “lúa trời” cứ thế mọc, trong khi miền Bắc phải trồng trọt rất vất vả, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mới tồn tại được. Rồi do thời tiết, miền Bắc phải cần ngôi nhà chắc chắn, kiên cố. Người ta rất cần lao động, rất cần sức vóc của người đàn ông. Trong miền Nam dễ sống hơn cho nên cuộc sống thoải mái và nhẹ nhàng hơn, chính vì vậy, vai trò của người con trai ở miền Nam không nặng nề như ở miền Bắc.  

Đó là tính đến yếu tố lịch sử, địa lý tự nhiên. Còn về những biến đổi của lịch sử thì miền Nam thời kỳ sau Pháp thuộc ở một thể chế khác và ảnh hưởng của phương Tây, nhất là Mỹ, rất rõ ràng. Lối sống của phương Tây, tư tưởng phương Tây cởi mở hơn, lại trên nền có sẵn sự cởi mở của văn hóa Đông Nam Á, càng làm cho người dân ở miền Nam cho rằng không nhất thiết mình phải có con trai. Họ không đặt nặng cái gọi là “nối dõi tông đường” hay “thờ cúng tổ tiên”.  

Sau này, khi đất nước thống nhất, cứ tưởng rằng mọi việc đi đúng quỹ đạo và tiến bộ hơn, cởi mở hơn đúng như tinh thần của những chính sách, những chương trình giải phóng phụ nữ - bình đẳng giới; thế nhưng, sau đó chúng ta lại bắt tay ngay vào kinh tế thị trường. Mà kinh tế thị trường và những chính sách vô hình trung lại quay trở lại củng cố vai trò của đàn ông nhiều hơn.  

 

File

Thời bao cấp, người dân được bao cấp về y tế, giáo dục. Còn kinh tế thị trường trả lại cho gia đình chức năng chăm sóc, giáo dục, và những chức năng kinh tế. Và thế là quay lại mô hình gia đình truyền thống: người phụ nữ chăm sóc gia đình, chăm sóc con cái, cha mẹ già. Trong khi đòi hỏi của cuộc sống hiện đại thì phụ nữ phải tham gia lao động sản xuất, kiếm tiền như người đàn ông; nhưng đồng thời gánh thêm trách nhiệm chăm sóc cha mẹ, con cái, chăm sóc tất cả mọi người trong gia đình. Cuối cùng, phụ nữ càng chịu nhiều gánh nặng hơn, cơ hội để họ phát triển càng hạn chế hơn so với nam giới. Nam giới trong cơ chế thị trường được tung hoành, phát triển, làm ăn, là doanh nhân, là đại gia... Người ta dễ cảm thấy rằng con trai mới có cơ hội phát triển, thăng tiến, giành giật cơ hội.  

Thời kỳ bao cấp ai cũng như ai; bây giờ cơ chế thị trường, tôi giỏi tôi có thể làm giàu, tích lũy của cải. Có của cải thì người ta lại muốn để lại cho con trai chứ không muốn để lại cho... con rể! Những gia đình khá giả một chút, nếu không có con trai thì nhiều người cho rằng đấy là một thiệt thòi, một thiếu sót, một sự chưa hoàn hảo. Rất nhiều người nói theo kiểu: “Lắm tiền thế mà cuối cùng cũng chỉ có hai con gái, “xây nhà tình nghĩa” ư... Vì thế, những gia đình cố gắng đẻ con trai phần lớn là những gia đình có tiền, có học vấn cao chứ không phải là những người thuộc nhóm lạc hậu như ta vẫn nghĩ. Vì sao? Vì họ giàu, họ có thể tiếp cận với những phương pháp hiện đại để giúp lựa chọn giới tính, sinh ra con trai. Câu chuyện là như thế, tưởng rằng giàu hơn người ta sẽ văn minh hơn nhưng không phải. Người ta có thể thuê đẻ con trai, thụ tinh ống nghiệm... Với sự phát triển của kỹ thuật làm cho nhu cầu có con trai càng trở nên mạnh liệt hơn ở chỗ: bây giờ có tiền, có hiểu biết mà lại không thể có con trai làm sao được? Đó là điều không thể chấp nhận được với những gia đình giàu có. Cho nên họ sẽ tìm mọi cách để có con trai.  

 

File

Làm sao mà phạt được? Ngay cả ở Hàn Quốc, người ta phạt rất nặng: 50.000USD và rút giấy phép nếu phát hiện bác sĩ tiết lộ giới tính thai nhi; nhưng người ta cũng chỉ phạt được một vài trường hợp thôi. Ở Việt Nam cũng chỉ phạt được đôi ba trường hợp. Người ta có cách nói bóng gió, ám chỉ, nói tránh đi để không phạm luật. Đó là điều hoàn toàn có thể lách được.  

Và vấn đề nữa là câu chuyện của ngành y tế. Những máy móc hiện đại được đầu tư, siêu âm 3, 4 chiều... chẳng lẽ lại không giúp biết được giới tính của thai nhi? Người ta đến siêu âm thai một phần vì muốn biết con mình có khỏe mạnh hay không, nhưng thực ra ai cũng mong mỏi muốn biết là mình có con trai hay con gái. Thế là cả hai bên cùng có nhu cầu, và nhu cầu ấy gặp nhau.  

 

File

Ở Việt Nam đến nay người ta vẫn phải nương tựa vào con trai để khi già có người chăm sóc. Nếu bây giờ có chế độ chính sách tốt cho người già, được hưởng một mức phụ cấp/trợ cấp nào đấy đủ sống, thì việc phụ thuộc vào con trai cũng sẽ giảm đi.  

Nói về những phong trào và chính sách xã hội, về văn hóa..., Nhà nước luôn kêu gọi duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Những lễ hội lớn, lễ hội quốc gia, toàn thấy hình ảnh những người đàn ông, những lãnh đạo, áo the khăn xếp lên cúng bái. Hình ảnh đó vô hình trung duy trì suy nghĩ trong cộng đồng là cần phải cúng bái tổ tiên và người đàn ông mới là người làm việc này.  

Giữ gìn truyền thống là tốt. Nhưng tại sao phụ nữ lại không thể lo việc thờ cúng? Cần thay đổi tất cả những quan niệm ấy.  

Những chính sách xã hội làm sao cũng phải giải phóng phụ nữ để phụ nữ có thể tham gia vào đời sống xã hội nhiều hơn, có cơ hội thăng tiến hơn, để các gia đình thấy rằng, đẻ con gái cũng chẳng thiệt thòi gì cả, con gái cũng có thể có cơ hội phát triển như đàn ông, không khổ hơn người đàn ông. (Bây giờ rất nhiều người vẫn bảo đẻ con gái nó khổ, thương con gái, lớn lên phải đi làm dâu nhà người ta...; đẻ con trai nó đỡ hơn)...  

 

File

Nếu chính sách xã hội thay đổi thì dần dần sẽ có sự thay đổi. Nếu chỉ hô hào thôi thì sẽ không thay đổi được gì cả!  

Có một nhà nghiên cứu ở Úc, trước đây từng có vợ và con gái. Khi ông ngoài 40 tuổi thì vợ ông mất do ung thư. Một thời gian sau, ông chuyển giới. Hiện giờ bà là một nhà nghiên cứu chuyên về đàn ông, và bởi từng là một người đàn ông nên bà rất hiểu đàn ông. Bà có nói một câu thế này: Nam giới luôn luôn muốn bảo vệ chế độ phụ hệ vì nam giới được lợi từ nó. Bất kỳ người đàn ông nào cũng như là “có một cổ phần” ở trong chế độ phụ hệ, cho nên bằng mọi cách họ sẽ bảo vệ nó.  

Ở Việt Nam mọi người sẽ ngày càng đẻ ít đi. Tỷ lệ người già tăng lên. Nếu Nhà nước không đầu tư vào những dịch vụ chăm sóc phúc lợi xã hội, thì mọi gánh nặng sẽ dồn lên vai người phụ nữ (chăm sóc bố mẹ già hai bên, chăm sóc con nhỏ…) và đó là lao động miễn phí của người phụ nữ mà cả gia đình và xã hội đều đang bóc lột họ. Người đàn ông được lợi nên không muốn thay đổi.  

 

File

Ở Viện chúng tôi có khá nhiều nghiên cứu. Gần đây nhất, năm 2017 và 2018, chúng tôi có 2 công trình nghiên cứu.  

Một nghiên cứu về Hôn nhân qua biên giới như là hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính khi sinh. Tức là, những người phụ nữ Việt Nam bị buôn bán sang Trung Quốc do hệ lụy mất cân bằng giới tính khi sinh ở Trung Quốc, những cô bé 12, 13, 14 tuổi bị bắt, bị lừa bán sang bên đó làm vợ người ta. Hay những người phụ nữ đi làm ăn cũng bị lừa bán. Cuộc sống bên đó rất khổ. Những gia đình Trung Quốc cũng khổ, người ta phải bỏ tiền ra mua cô dâu nước ngoài để mong muốn con trai mình có vợ, sinh con; nhưng có nguy cơ bị mất tiền, bị vướng vào pháp luật. Tức là, không chỉ cô dâu bất hạnh mà những gia đình mua cô dâu cũng bất hạnh. Đó là những bài học rất lớn cho Việt Nam.  

Một nghiên cứu nữa, đó là “lệch chuẩn tích cực”, tức là nghiên cứu về những gia đình chỉ có con gái, người ta làm thế nào để vượt qua những áp lực. Nghiên cứu đó cũng thú vị, cho thấy những gia đình nếu chỉ có con gái mà vượt qua được định kiến thì họ phải có một số điều kiện nhất định. Ví dụ, hai vợ chồng rất bình đẳng, người chồng rất thoải mái, không lăn tăn gì về việc chỉ có con gái. Và gia đình lớn, bố mẹ chồng, bố mẹ vợ cũng hết sức ủng hộ. Điều kiện nữa là cặp vợ chồng đó không sống chung với gia đình nhà chồng mà sống riêng ngay từ đầu. Ngoài ra, hai vợ chồng phải có tính cách mạnh mẽ, không quan tâm đến những câu hỏi kiểu như vì sao không cố đẻ con trai... Họ có thể chống lại những trào lưu đang rất xuôi dòng (phải có con trai), họ đang đi ngược dòng.  

Chúng tôi nghiên cứu cả ở nông thôn và thành thị. Ngay cả ở những tỉnh mất cân bằng giới tính nghiêm trọng nhất như Hưng Yên thì vẫn có những cặp vợ chồng chỉ đẻ con gái, và họ cũng chẳng lăn tăn gì cả. Không phải vì họ không đẻ được nữa mà vì họ thấy không cần thiết…  

 

File

Theo tôi, Nhà nước muốn giải phóng người phụ nữ thì phải đầu tư ngân sách vào xây dựng nhà trẻ, trường học, đầu tư vào hệ thống chăm sóc y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu từ A đến Z… Và đầu tư vào chăm sóc người già, chăm sóc người ốm. Bây giờ, cứ một người bị ốm thì cả nhà phải đến chăm sóc, mà người phụ nữ đóng vai trò chính. Lẽ ra ở bệnh viện, điều dưỡng, y tá phải làm việc đó!  

Nếu chúng ta có những trung tâm chăm sóc người già thật tốt, trường mầm non, trường học thật tốt thì gánh nặng của người phụ nữ sẽ nhẹ đi, họ sẽ toàn tâm toàn ý hơn để phát triển bản thân. Và dĩ nhiên, người đàn ông trong gia đình cũng phải chia sẻ. Cách nghĩ phải thay đổi, lúc đó xã hội mới thay đổi được.

Xin cảm ơn bà!

Bài: Thúy Hoa thực hiện

Đồ họa: Hà Nguyên