ĐỊnh vị văn hóa Việt
File

Tạp chí Sóng Việt có buổi trò chuyện với nhà nghiên cứu văn hóa, Phó giáo sư, Tiến sĩ Đinh Hồng Hải, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh vấn đề này.

Thưa ông, chúng ta có thể tóm lược như thế nào về những đặc trưng và sự giao thoa trong văn hóa Việt?

Nói về đặc trưng văn hóa Việt, trước hết chúng ta phải nói đến vị trí địa văn hóa của Việt Nam, dù nằm trong khu vực Đông Nam Á (ĐNA) nhưng văn hóa Việt chịu ảnh hưởng của cả văn hóa Đông Á và ĐNA. Do đó, văn hóa Việt Nam là sự giao thoa mạnh mẽ của các luồng văn hóa trong phạm vi rộng lớn suốt chiều dài lịch sử. Khu vực ĐNA được một số học giả phương Tây đầu tiên đến đây gọi là “Các quốc gia Ấn Độ hóa”.  

Là một quốc gia trong khu vực, Việt Nam chịu chung ảnh hưởng của văn hóa, tín ngưỡng Ấn Độ. Tuy nhiên, Việt Nam có vị trí địa lý đặc biệt, trải dài và có lịch sử chịu ảnh hưởng lớn từ văn hóa Trung Hoa. Bởi vậy, sự giao thoa giữa văn hóa Đông Á (vùng văn hóa đồng văn Trung Hoa) và văn hóa ĐNA (văn hóa Ấn) tạo nên nét văn hóa Việt đặc trưng và không có bất kỳ quốc gia nào trong khu vực giống như vậy. Chính sự giao thoa này đã tạo nên vô số đặc trưng thú vị cho văn hóa Việt. Đồng thời cũng tạo nên vô số tranh cãi của giới học thuật rằng: Đâu là văn hóa Việt?; nét văn hóa nào là của người Việt?…  

Tuy nhiên, có một điểm chung là văn hóa khu vực đồng bằng châu thổ Bắc bộ được coi là trung tâm của mọi vùng văn hóa Việt, nơi có nét đặc trưng rõ nét nhất trong sự đan xen, giao thoa với các nền văn hóa ở những vùng khác.

Vậy đặc trưng văn hóa Việt là gì? Đây là điều vô cùng khó, bởi như đã nêu ở trên, Việt Nam có vị trí địa văn hóa vô cùng đặc biệt, là nơi giao thoa của mọi nền văn hóa trong khu vực và trên thế giới với hàng nghìn năm lịch sử. Tuy nhiên, nếu chỉ tính từ đầu Công nguyên trở lại đây, văn hóa người Việt ở khu vực phía Bắc đã được hình thành và chịu sự tác động mạnh mẽ của văn hóa Trung Hoa. Trong khi đó ở phía Nam lại chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn và các luồng văn hóa khác. Trong khoảng thời gian đó, người Việt đã chắt lọc những thành tố tinh túy nhất từ các nền văn hóa này để tạo nên một nền văn hóa Việt Nam vô cùng phong phú, đặc sắc mà vẫn giữ được nét riêng của văn hóa, con người Việt Nam.

Từ giai đoạn cận đại cho đến nay, khi văn hóa phương Tây mạnh mẽ và phổ biến khắp toàn cầu, nền văn hóa Việt Nam vốn có sẵn truyền thống cởi mở nên việc hội nhập văn hóa thế giới, tiếp hay thu văn hóa phương Tây cũng có phần nhanh nhạy hơn so với các quốc gia khác trong khu vực. Việc nhận diện văn hóa Việt, xác định vị trí của Việt Nam trong bức tranh văn hóa toàn cầu và khu vực đòi hỏi chúng ta phải có trí tuệ. Khi có được bản lĩnh văn hóa thì chúng ta mới có thể chắt lọc những tinh hoa văn hóa từ lịch sử và truyền thống để phát huy và xây dựng hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.

Với đặc trưng giao thoa của nhiều nền văn hóa, ông có nghĩ rằng vì thế mà văn hoá Việt không có nét riêng?  

Chúng ta cần phát huy những giá trị của văn hoá Việt, đó là sự cởi mở, hay nói cách khác, văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa mở. Chúng ta đang có một nền văn hóa được hình thành từ sự giao thoa giữa văn hóa bản địa và nhiều nền văn hóa trong khu vực. Văn hóa Việt có thể chấp nhận mọi nét văn hóa có giá trị của các nền văn hóa khác rồi biến đổi những nét văn hóa ấy, hay kết tinh những văn hóa ấy và hòa chung vào với gốc rễ văn hóa bản địa của người Việt hình thành nên những thành tố văn hóa đã được Việt hóa. Đó chính là nét đặc trưng của văn hóa Việt mà cha ông chúng ta đã làm được trong hàng nghìn năm qua. Chẳng hạn như biểu tượng con rồng thời Lý hay thơ văn Lý - Trần là những ví dụ tiêu biểu.

Giữa thế kỷ XX, Việt Nam từng được thế giới gọi là “hòn ngọc viễn Đông” với những tiềm năng nổi trội. Xa hơn, trong suốt lịch sử hàng nghìn năm, Việt Nam là điểm dừng chân quan trọng trên con đường giao thương của hầu hết các quốc gia hùng mạnh trên thế giới. Vị trí địa chính trị, địa văn hóa đặc biệt, là nơi giao thoa, giao lưu của mọi nền văn hóa chính là điểm đặc trưng, tạo nên giá trị của văn hóa Việt.  

Gạn lọc văn hóa để chọn ra những thành tố văn hóa có giá trị chính là cách làm của người Việt qua hàng nghìn năm lịch sử để xây dựng nên đặc trưng văn hóa Việt. Một trong những ví dụ điển hình về sự gạn lọc, kết tinh văn hóa được người Việt thể hiện rất thành công, đó là con Nghê. Tên gọi con Nghê không có trong từ điển tiếng Hán, tiếng Anh hay bất cứ ngôn ngữ nào khác. Dù ở Trung Quốc và một vài nơi trên giới cũng có các con vật linh tương tự con Nghê, như sư tử hay kỳ lân nhưng nó hoàn toàn không giống con Nghê ở Việt Nam. Con Nghê là linh vật biểu trưng có tính hư cấu và có sự kết tinh cao độ các giá trị văn hóa Ấn, văn hóa Trung Hoa, văn hóa Chăm… và văn hóa bản địa. Con Nghê không ngừng biến đổi trong suốt chiều dài lịch sử, luôn tiếp nhận thêm những yếu tố mới, những nét sáng tạo mới về hình thái thẩm mĩ, tính biểu tượng nhưng vẫn luôn giữ được chất “hoan hỉ”, ngộ nghĩnh vốn có của nó như dân gian thường gọi là “phượng múa - nghê cười”.  

Sự vui vẻ, trào lộng đó chính là một phần cơ bản trong tinh thần của người Việt. Ngay ở thời điểm hiện nay, hình ảnh Nghê vẫn không ngừng tiếp nhận những sáng tạo mới để thích nghi và biến đổi. Các nghệ sĩ, nghệ nhân Việt đang tiếp tục tạo tác nên những mẫu mới Nghê của thế kỷ 21, đúng như bản chất cởi mở và không ngừng biến đổi của văn hóa Việt.  

Văn hóa Việt chính là sự đa dạng như vậy, vậy phải làm sao để chúng ta có thể nhận diện được đặc trưng văn hóa Việt?

Các nhà sinh thái học có một thuật ngữ là “lời nguyền tài nguyên”, đại ý nói rằng, hầu hết những nước có nhiều tài nguyên đều là những quốc gia nghèo khổ, lạc hậu. Những quốc gia nhiều tài nguyên thì thường có lịch sử xung đột và nghèo đói kéo dài, Việt Nam cũng có một lịch sử như vậy. Đây dường như là định mệnh của một quốc gia có vị trí địa chính trị, địa văn hóa đặc biệt và giàu tài nguyên như Việt Nam. Vì vậy mà các đế quốc lân bang trong lịch sử như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, đều phát binh xâm lược Việt Nam.  

Tuy nhiên, có một điều rất đặc biệt, điều này đã được các học giả trên thế giới khẳng định, là sự tồn tại của dân tộc Việt, văn hóa Việt trong suốt hàng ngàn năm mà chưa bị các nước đế quốc thôn tính, đó là khát vọng độc lập của người dân ở quốc gia này. Nếu so sánh với các quốc gia khác ở khu vực nam Trung Hoa mà sử gọi là Bách Việt thì chỉ duy nhất người Việt - Việt Nam là không/chưa bị đồng hóa. Vì vậy, nếu gọi lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam là “văn hóa quân sự” thì “khát vọng độc lập” chính là nét văn hóa tiêu biểu nhất.  

Vậy chúng ta phải nhận diện văn hóa Việt như thế nào? Đây là điều rất khó khăn vì văn hóa Việt Nam phức tạp và đa dạng. Tuy nhiên, trong mọi thành tố văn hóa Việt Nam đều có văn hóa riêng biệt, đặc trưng và độc đáo cần chúng ta nhận diện, như nét “văn hóa quân sự” đã nêu trên. Chúng ta có nhiều tài nguyên văn hóa nhưng chưa phát huy được những thế mạnh, đặc trưng của sự đa dạng văn hóa ấy. Để biến tài nguyên văn hóa Việt Nam trở nên một nguồn sức mạnh thực sự thì người Việt Nam trước hết phải có bản lĩnh văn hóa. Nếu không, chúng ta  sẽ bị hòa tan trong những “làn sóng văn hóa” dồn dập trong thời gian qua như văn hóa Hàn, văn hóa Nhật, văn hóa Mỹ… Để không bị những làn sóng đó vùi dập và làm tan biến trong cái biển toàn cầu hóa văn hóa hiện nay thì bên cạnh “bản lĩnh văn hóa” chúng ta cần có trí tuệ.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tốc độ giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa các quốc gia trên thế giới, văn hóa Việt đang đối mặt với sự “xâm lăng” mạnh mẽ của văn hóa ngoại lai và mất dần nhiều nét đặc trưng truyền thống. Chúng ta phải ứng phó với thực tế này ra sao?

Vấn đề này hiện không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Sự “nô lệ” văn hóa một cách thụ động và dễ dãi của giới trẻ trước những nền văn hóa mạnh hơn đang là vấn đề lớn mà ở Việt Nam, nơi chịu sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ nhất trong khu vực cần sự quan tâm đặc biệt. Nếu chúng ta không có bản lĩnh văn hóa, không có tri thức để chắt lọc những cái hay, cái đẹp của văn hóa thế giới, tạo nên nét riêng cho Việt Nam thì quá trình xâm lăng văn hóa sẽ khiến chúng ta trở thành những kẻ nô lệ văn hóa.  

Sự “đồng hóa văn hóa” của người Hán đối với các tộc Bách Việt trong lịch sử chính là tấm gương “tày liếp” mà chúng ta luôn phải nhìn vào. Có lẽ bản lĩnh văn hóa, xâm lăng văn hóa và nô lệ văn hóa là những thuật ngữ nên được nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam như với đồng hóa văn hóa.

Để định vị hình ảnh văn hóa Việt trong khu vực và trên thế giới trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ hiện nay, chúng ta cần nhìn lại lịch sử văn hóa Việt với những giá trị văn hóa kết tinh qua hàng nghìn năm. Chính những kết tinh đặc sắc ấy là những yếu tố mà chúng ta phải phát huy để tạo nên những hình ảnh đặc trưng của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam và thương hiệu Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, chúng ta cần phải có bản lĩnh để dung hòa mọi nền văn hóa mà không bị hòa tan trong đó. Bản lĩnh văn hóa chính là sức mạnh văn hóa của mỗi quốc gia trong quá trình giao thoa, hội nhập. Muốn làm được như vậy, mỗi người trong chúng ta cần phải phát huy được những tinh hoa văn hóa Việt để xây dựng hình ảnh văn hóa Việt cởi mở, năng động, có bề dày truyền thống nhưng cũng có bản lĩnh và trí tuệ.

Xin cảm ơn ông!

 

 

File
File

Bài: Thành Công

Đồ họa: Hà Nguyên