Cuộc tranh luận Công hàm tại LHQ: Và một năm 2021 “khó đoán định” trên Biển Đông
File

Ngày 12/12/2019, Malaysia đã đệ trình lên Ủy ban Ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng (CLCS) Công hàm số HA 59/19/2019. Ngay lập tức, Trung Quốc đã gửi công hàm CML/14/2019 phản đối, nhấn mạnh các vùng biển mà Malaysia trình lên thuộc Trung Quốc. Hai công hàm này đã mở đầu cho hơn 20 công hàm, công thư, tuyên bố ngoại giao của các quốc gia ven Biển Đông và một số quốc gia ngoài khu vực tuyên bố thường xuyên đi qua Biển Đông, như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Australia trình lên Tổng Thư ký LHQ để bày tỏ lập trường.

Công hàm là văn kiện ngoại giao thể hiện rõ ràng và chính xác nhất về quan điểm của mỗi quốc gia về một vấn đề mà nước này quan tâm lên LHQ, diễn đàn quốc tế công khai và có tầm ảnh hưởng nhất trên thế giới. Việc Trung Quốc gửi công hàm CML/14 ngày 12/12/2019 lên Ủy ban Ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng (CLCS) LHQ, được cho là cách thức nước này sử dụng để công khai lưu hành và được cộng đồng quốc tế thừa nhận các lập luận của Bắc Kinh trên Biển Đông. Khi lợi dụng CLCS để chính thức tuyên bố về các yêu sách của mình, mục đích của Trung Quốc là tạo nên một tình huống mà trong đó Trung Quốc có thể tuyên bố rằng lập trường của nước này đã được biết đến rộng rãi, với một cuộc trao đổi chính thức, và sau đó được các quốc gia trên thế giới “đã đồng ý” hoặc “ngầm đồng ý”. Giáo sư Jay Batongbacal, chuyên gia hàng hải cấp cao, Viện trưởng Viện Hàng hải và Luật biển của Đại học Philippines nhận định: “Sự ngầm đồng ý giả định ở đây sẽ được thiết kế một cách khéo léo bởi các quốc gia ven biển khác sẽ không thấy tính cấp bách phải đưa ra một quan điểm phản bác ngay lập tức, và vì thế Trung Quốc nghiễm nhiên nói rằng yêu sách trên biển của họ đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận” .

File

Trung Quốc luôn khẳng định họ có quyền và quyền chủ quyền được thiết lập thông qua cái gọi là “thực tiễn lịch sử lâu dài ở Biển Đông” hay còn gọi là quyền lịch sử. Tuy vậy, các điều khoản của Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS 1982) đã bác bỏ điều này. Trong suốt 2 thập kỷ gần đây, Trung Quốc được cho là “dồn toàn lực” để hiện thức hoá đường lưỡi bò 9 đoạn độc chiếm Biển Đông. Tuy nhiên, phán quyết của Toà Trọng tài thành lập theo Phụ lục 7 trong vụ Philippines kiện Trung Quốc năm 2016, đã bác bỏ những vùng nước nằm bên trong đường 9 đoạn mà Trung Quốc yêu sách - đó là quyền lịch sử của họ. Còn về yêu sách các đảo và chủ quyền của các đảo trong đường 9 đoạn, Tòa Trọng tài không bác (do Tòa không có thẩm quyền). Một năm sau phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016, cuối tháng 8 năm 2017, Phó Vụ trưởng Vụ Điều ước và pháp luật thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Mã Tân Dân lần đầu tiên nhắc đến khái niệm “Nam Hải Chư Đảo” (còn gọi là Tứ Sa) trong một cuộc họp kín với giới chức Mỹ ở thành phố Boston. Nhưng phải đến ngày 12/12/2019, trong công hàm ngoại giao số CML/14/2019 trình LHQ, Trung Quốc mới chính thức nhắc đến khái niệm Tứ Sa.  

Trong công hàm số CML/14/2019, Trung Quốc đưa ra các lập luận: Thứ nhất, Trung Quốc có cái gọi là “chủ quyền không thể chối cãi” đối với Nam Hải chư đảo, bao gồm Đông Sa, Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam) và Trung Sa (tức là bãi ngầm Macclesfield). Thứ hai, các nhóm đảo vừa nêu là quần đảo và được sử dụng đường cơ sở thẳng để xác định đường cơ sở và vùng nước quần đảo. Thứ ba, các nhóm đảo này có vùng nước quần đảo, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa tính từ đường cơ sở thẳng. Với lập luận này, Trung Quốc mong muốn thiết lập một yêu sách vùng biển mới được tạo ra từ đường cơ sở thẳng của các quần đảo mà họ cho rằng họ có chủ quyền nằm trong Tứ Sa. Tính toán vừa nêu, nếu thành công, sẽ cho phép Trung Quốc nắm giữ chủ quyền một vùng biển có phạm vi rộng hơn cả vùng biển mà nước này từng kỳ vọng tạo ra bởi yêu sách “Đường Lưỡi bò” trên Biển Đông trước đây. Đồng thời, Trung Quốc cho rằng họ “có chủ quyền” với quần đảo ở Biển Đông, “bao gồm quần đảo Đông Sa, Tây Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), Trung Sa và Nam Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Như vậy, có thể thấy khái niệm Tứ Sa mà Trung Quốc đưa ra, chủ yếu nhấn mạnh vào chủ quyền các đảo và áp dụng cách giải thích về việc các thực thể nổi có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước LHQ về Luật Biển UNCLOS 1982 để duy trì vùng biển nằm trong đường lưỡi bò mà họ đã từng yêu sách.

 

File

Đây là điều các quốc gia ven Biển Đông và ngoài khu vực nhưng tuyên bố có lợi ích về giao thương đi lại trên Biển Đông không thể chấp nhận. Việc các quốc gia liên tục trình các công hàm lên LHQ phản ánh một trạng thái “không thể nhẫn nhịn” trước các hành vi phi pháp của Trung Quốc.  

Một điểm đáng chú ý nữa, trong số hơn 20 công hàm liên quan đến vấn đề Biển Đông trình lên LHQ, có tới 1/3 số công hàm của các quốc gia không nằm ven Biển Đông. Trong các công hàm, các nước thể hiện rõ sự quan ngại về quyền tự do hàng hải trong khuôn khổ UNCLOS cũng như các vấn đề liên quan đến danh nghĩa vùng biển. Những công hàm này dù có viện dẫn phán quyết của Toà Trọng tài 2016 hay không, thì đều khẳng định các quyết định của Tòa rằng các quyền trên biển của các quốc gia ven Biển Đông phải được thiết lập phù hợp với UNCLOS 1982, đặc biệt đối với các cấu trúc địa lý xa bờ.

Công hàm của Australia trình LHQ ngày 23/7/2020 đã nhắc lại các căn cứ để được vẽ đường cơ sở thẳng và đường cơ sở quần đảo được quy định trong UNCLOS 1982 và coi đó là căn cứ để nước này “bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa dựa trên các đường cơ sở thẳng”. Công hàm của Australia ngày 23/7 khẳng định: “Không có cơ sở pháp lý cho việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở thẳng... ở Biển Đông bao gồm Tứ Sa hoặc lục địa hoặc các quần đảo xa bờ”. Vì không thể vẽ đường cơ sở thẳng ở Biển Đông nên các thực thể ở khu vực này đều không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Trong một công hàm chung trình lên LHQ ngày 16/9/2020, lần đầu tiên, ba nước Anh, Pháp, Đức khẳng định rõ họ bác bỏ các yêu sách về đường cơ sở thẳng mà Trung Quốc áp đặt đối với các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa mà nước này đòi chủ quyền phi pháp trên Biển Đông; đồng thời phản đối khái niệm “vùng nước lịch sử” mà Trung Quốc đòi hỏi. Quan điểm trên thể hiện một thái độ rất khác biệt của ba nước Anh, Pháp, Đức trong vấn đề Biển Đông, mà trước đây hiếm khi có một nước EU nào công khai bày tỏ thái độ trước Trung Quốc. “Tranh chấp Biển Đông là minh chứng cho các thách thức về pháp lý, trong đó nổi bật là vấn đề tuân thủ luật pháp quốc tế và luật biển quốc tế, đặc biệt là tôn trọng quyền của quốc gia ven biển trong các không gian biển và tự do hàng hải”, bà Sandrine Barbier, Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế, Bộ Ngoại giao và châu Âu (Pháp) nhận định.

 

File

Không thể phủ nhận cuộc tranh luận công hàm là một diễn biến mới ở Biển Đông năm 2020. Những lập trường mới của các nước được làm rõ trong các công hàm và tuyên bố ngoại giao sẽ không chỉ có ý nghĩa pháp lý lâu dài mà còn ảnh hưởng đến những hoạt động và hợp tác tương lai ở Biển Đông. Cuộc tranh luận này cho thấy một xu hướng mới mà ở đó các quốc gia yêu sách nhỏ hơn ở Biển Đông đang tiến hành các hoạt động hòa bình để bảo vệ các quyền pháp lý thông qua các thể chế hợp pháp.  

Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử thiết lập từ lâu đời nhưng bằng chứng duy nhất mà họ đưa ra đến nay vẫn chỉ là tấm bản đồ được vẽ năm 1945. Trong khi đó, phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực năm 2016 trong vụ Philippines kiện Trung Quốc vẫn chưa được các bên liên quan tuân thủ. Vậy tương lai đàm phán COC sẽ ra sao?  

Mặc dù các bên đàm phán COC đã nhất trí về Khung của Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông vào tháng 8/2017, nhưng từ đó cho đến nay vẫn chưa có nhiều bước tiến thực chất. Các dự báo sắp tới về đàm phán COC đều cho rằng tiến trình này sẽ gặp nhiều khó khăn do nhiều yếu tố, trong đó có tác động của đại dịch và thái độ cứng rắn của Trung Quốc.  

 

File

Cho đến nay, vẫn chưa rõ chính sách của ông Joe Biden đối với Biển Đông ra sao, nhưng có thể thấy Biển Đông sẽ tiếp tục là vấn đề an ninh khu vực phức tạp được các bên quan tâm trong năm 2021. Trong bối cảnh quan hệ Mỹ - Trung chạm đáy căng thẳng, đại dịch Covid-19 chưa chấm dứt, vai trò của ASEAN trong việc hóa giải các điểm nóng khu vực tiếp tục được coi trọng. Nêu lên một thực tế: thời gian gần đây đã xảy ra rất nhiều vụ việc nghiêm trọng trên Biển Đông, có thể tác động trực tiếp đến hòa bình, ổn định tại khu vực, bên lề Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (AMM) lần thứ 53, Bộ trưởng Ngoại giao Philipinnes Teodoro Locsin cho rằng điều này đặt ra thách thức cho ASEAN và các đối tác cần có quyết tâm và hành động quyết đoán hơn trên cơ sở luật pháp quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ xung đột. Ông Teodoro Locsin nhấn mạnh:“Một khu vực Biển Đông ổn định nằm trong nguyện vọng chung của các nước ASEAN và một Bộ Quy tắc COC thực chất và hiệu quả sẽ đóng góp vào hòa bình, an ninh và ổn định của khu vực”; “Philippines kêu gọi các nước tuân thủ các luật quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Philippines cũng sẽ tiếp tục ủng hộ những nỗ lực nối lại các cuộc đàm phán COC bất chấp đại dịch Covid-19”.

 

Bài: Hồ Điệp

Đồ họa: Hà Nguyên