Con đường xưa - khát vọng và tham vọng

Trước đây, cụm từ “con đường tơ lụa” gợi liên tưởng ngay và chủ yếu đến chuyện giao thương buôn bán, đến khát vọng của con người đi tới thế giới ở phía bên kia của chân trời, đến khám phá và chinh phục. Kể từ mùa thu 2013, tại Kazakhstan, khi Trung Quốc trình bày sang kiến “vành đai và con đường”, hay còn được gọi là “con đường tơ lụa mới”, thuật ngữ này dần hàm ý cả câu chuyện chính trị và kinh tế, thương mại.

Tham vọng “nhất đới, nhất lộ”  này của Trung Quốc chỉ giống con đường tơ lụa xưa ở phần ý tưởng mở lối phát đạo cho Trung Quốc vươn ra những vùng lãnh thổ xa xôi trên trái đất, còn cả mục đích lẫn cách thức thực hiện đều khác rất cơ bản.

Từ rất nhiều thế kỷ nay, con đường tơ lụa vốn có thật mà được cảm nhận như một huyền thoại hay một câu chuyện cổ tích. Nó vốn không phải chỉ là một con đường duy nhất chạy xuyên suốt mà là mạng lưới của nhiều chặng đường được kết nối lại với nhau, đi từ Trung Quốc đến thành phố nổi Venice của Italy - chạy xuyên qua châu Á và châu Âu, kết nối châu Á với châu Âu, từ năm 200 trước Công nguyên, dài khoảng 6.400 km. Đại dương vốn tồn tại cùng trái đất nhưng mãi từ thế kỷ 14 trở về sau, giao thông đường biển mới hình thành và phát triển, trước đó chỉ có đường bộ. Con đường tơ lụa vì thế không chỉ là con đường duy nhất nối hai châu lục mà còn là đường bộ dài nhất trên thế giới.

Thời nay, mấy ai còn nhớ hay đã biết cái tên con đường tơ lụa này có từ bao giờ và do ai đặt cho. Sử sách còn ghi lại và lưu lại rằng bá tước Ferdinand von Richthofen, người Đức, là người đầu tiên đưa ra cụm từ này vào năm 1877. Trước đó, con đường này không có tên gọi hay biệt danh. Cũng phải thôi bởi từ khi giao thông hàng hải đường biển phát triển thì con đường tơ lụa mất dần tác dụng và cứ dần bị quyên lãng. Ferdinand von Richthofen là một nhà địa chất học, đã ở Trung Quốc từ 1868 đến 1872 để nghiên cứu về Trung Quốc và năm 1877 công bố 5 tập sách dày với kết quả nghiên cứu về Trung Quốc. Trong tập đầu tiên, người này lần đầu tiên đưa ra cụm từ con đường tơ lụa và ở trang 500 có bức bản đồ đầu tiên về con đường tơ lụa.

Cái tên gọi được sử dụng, nhưng nó lại không bao hàm được hết thực chất và ý nghĩa của con đường này. Richthofen lấy ý tưởng của việc buôn bán và trao đổi sản phẩm lụa ở thời nhà Hán (từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220 sau Công nguyên), tức là chỉ từ Trung Quốc tới Trung Á. Con đường tơ lụa còn dài hơn thế rất nhiều. Từ đó, khái niệm này cứ dần định hình. Năm 1910, nó trở thành đối tượng của nghiên cứu khoa học trong luận văn của nhà địa chất học người Đức Albert Hermann. Từ năm 1936, với việc ấn hành quyển sách “Con đường tơ lụa” của tác giả Sven Hedins ở Đức, khái niệm này được công nhận chung trên thế giới và ám chỉ toàn bộ tuyến đường xưa. Người được coi là khai phá con đường thương mại này là tướng Zhang Qian (195-114 trước Công nguyên). Ở thành phố Hàng Châu của Trung Quốc ngày nay có bức tượng vị tướng này.

 

File

Trục đường chính của Con đường tơ lụa là tuyến đường từ sa mạc Gobi đến vùng cao nguyên ở miền đông Iran và từ thành phố Dunhoang của Trung Quốc đến vùng Kashmir và Peshawar ở Ấn Độ và Pakistan ngày nay. Từ những thành phố điểm này, Con đường tơ lụa tiếp tục vươn dài ra, đến những vùng lãnh thổ mới của Trung Quốc và Nam Á, Trung Á, Tây Á và sang châu Âu.

Con đường tơ lụa phía đông xưa dẫn dắt từ con đường chính kia tới những đô thị lớn của Trung Quốc đương thời. Còn Con đường tơ lụa phía tây đi qua Iran, Iraq, Syria nối Trung Quốc với Ai cập và từ hải cảng Alexandria vươn sang châu Âu. Thời ấy, Trung Quốc và Nhật Bản cũng còn đã tìm cách mở lối thông thương vượt biển. Nhưng phải từ sau thế kỷ 15 thì mới phát triển thành công.

 

File

Ngày nay, ghi chép và hình ảnh về Con đường tơ lụa xưa không có nhiều và con người hiện tại chỉ có thể hình dung và mường tưởng về địa hình cũng như thực tế cuộc sống trên và xung quanh con đường huyền thoại này. Chuyến đi trên con đường này đầy khó khăn, vất và và nguy hiểm. Phương tiện vận chuyển chủ yếu là lạc đà. Thời tiết biến động từ nắng cháy đến rét cắt da thịt, bão cát và cát chuyển. Ở những vùng sa mạc Karakum, Taklamakan hay Gobi, ngày mùa hè nóng bỏng tới hơn 50 độ C, đêm về lạnh tới âm 35-40 độ C, có đến 85% là những đụn cát di chuyển, núi cát có thể cao tới 200 mét, bão cát có thể di chuyển với tốc độ tới 20 m / giây. Con đường tơ lua đi qua không chỉ có sa mạc mà còn cả núi cao. Dãy núi Karakorum chẳng hạn tiếp nối dãy núi Hymalaya và cao tới 8.611 m. Ở đoạn này, con đường tơ lụa đi qua những khe núi hẹp và đèo Khunjrerab, cao 4.693 mét. Phần lớn những chặng đường của con đường tơ lụa đi qua vùng thường xuyên xảy ra động đất. Không phải động vật chở đồ nào, kể cả lạc đà, cũng đều có khả năng chịu đựng được sự chênh lệch về độ cao của địa hình và nhiệt độ thời tiết biến động. Chỉ có loại lạc đà có 2 bướu trên lưng là thích hợp nhất. Chúng có bộ lông dày, khả năng chịu khát rất cao trong vài tuần, trong vòng vài phút có thể uống được hơn 100 lít nước, móng chân to và xoài ra nên bước đi vững vàng trên cát và đường núi, lại vận chuyển được khoảng 250 kg trên lưng.

Để có thể tồn tại và hành trình được trên con đường tơ lụa, con người và động vật đều cần khả năng chịu đựng cao và thông thạo địa hình, thời tiết. Nhưng đường thì xa mà điều kiện khắc nghiệt nên gần như chưa có ai đi được từ đầu đến cuối con đường. Con người chỉ đi từng đoạn và hàng hoá chuyển tiếp tay nhau. Dù vậy, đã có không ít người và động vật bỏ mạng trong cuộc hành trình. Ngày nay vẫn còn thấy mộ người và xương cốt động vật. Người ta kể lại với nhau rằng người chết được chôn cất bên cạnh con đường và xương cốt của động vật được trải ven đường để vừa làm dấu đường vừa nhắc nhở những người đi sau cận thận và phòng ngừa hiểm nguy.

 

File

Những người đã từng đi trên con đường xưa này là thương gia muốn khai phá thị trường mới và tìm kiếm nguồn hàng hoá mới, là những nhà khoa học hay người muốn phiêu lưu mạo hiểm, nhà những người tu luyện tôn giáo và truyền giáo. Hậu thế đã không ít người không ít lần đặt ra câu hỏi cái gì đa thôi thúc họ bất chấp mọi hiểm nguy để làm cuộc hành trình bất định như vậy?

Lợi ích kinh tế và thương mại, tức là làm giàu? Chắc chắn, nhưng không phải duy nhất. Đấy còn là khát vọng về khám phá thế giới và không để cho chân trời hạn chế tầm nhìn và hiểu biết. Đấy còn là thử thách đối với khả năng và trí tuệ của con người. Vạn lý trường thành đã giúp bảo vệ an toàn cho người đi trên con đường tơ lụa. Nhờ con đường tơ lụa mà nhiều đô thị đã hình thành trên tuyến đường, nhiều ốc đảo hoang đang dần trở thành đô thị lớn cho mọi người trú chân, trao đổi thông tin và hàng hoá, kết nối giao thương. Dấu tích ngày nay còn thấy rất rõ mà nổi tiếng nhất là thành phố ốc đảo Gaochang và hồ bán nguyệt Dunhoang ở Trung Quốc, pháo đài Buchara và thành phố Samarkand ở Uzbekizstan, mấy nhà nguyện Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ. Vậy là không chỉ có trao đổi hàng hoá mà Con đường tơ lụa còn giúp trao đổi văn hoá và tôn giáo. Con đường tơ lụa hiện thân cho những thời kỳ lịch sử của nhân loại đã qua lâu đến mức bây giờ gần như bị quên lãng. Cái tên gọi bây giờ được sử dụng lại nhưng cách thức lại rất khác nên lối đường xưa càng ngày càng thêm mất dấu tích. Con người luôn sống cùng hoài niệm về thời đã qua vậy mà Con đường tơ lụa xưa kia nay vẫn chỉ được lần dấu lại theo từng chặng đường ngắn và lẻ mẻ. Cát bụi cuộc đời và sự tàn nhẫn của thời gian đã biến nhiều lối mòn xưa trên con đường này thành hoang thổ. Nhưng rõ ràng là ý tưởng về Con đường tơ lụa và khát vọng của con người gửi gắm ở đó vẫn còn sống mãi.

File

Bài: Dịch Dung

Đồ họa: Hà Nguyên