Chen chân vào chuỗi giá trị
File

Khu trồng chuối của Fohla nằm trên 200 héc-ta đất nhiễm phèn thuộc địa phận tỉnh Long An, cách thành phố Hồ Chí Minh gần 2 giờ xe chạy, là một khu đầy kênh rạch và những cây cầu nhỏ. “Tất cả đều là kênh đào” – anh Võ Xuân Hòa, con trai của ông chủ thương hiệu chuối Fohla Võ Quan Huy -  cho biết. Ở những mảnh đất phèn, đào kênh để rửa phèn gần như là yêu cầu bắt buộc. Thường trên những mảnh đất nhiễm phèn như thế này chỉ có tràm và bạch đàn là sống nổi nhờ vào đặc tính chịu phèn.

Tuy nhiên, ông Võ Quang Huy và gia đình đã chọn chuối, là loại cây có khả năng chịu phèn kém. Nguyên nhân đơn giản, chuối khó trồng nhưng lợi nhuận lớn hơn hẳn so với bạch đàn, tràm. Mỗi năm gia đình ông Huy cho ra đời hàng nghìn tấn chuối xuất khẩu với thương hiệu Fohla của mình - điều mà ít doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam làm được. Fohla là thương hiệu trái cây Việt Nam hiếm hoi xuất khẩu được ra thế giới trong khi các loại trái cây Việt Nam thông thường xuất khẩu dưới những cái tên chung chung như sầu riêng Việt Nam, thanh long Việt Nam, nhãn Việt Nam…

Thương mại chuối toàn cầu là một ngành đang tăng trưởng với mức giá ổn định theo tăng trưởng kinh tế. Thống kê của World’s Top Export cho thấy lượng chuối nhập khẩu năm 2017 trên toàn thế giới đạt trên 15 tỉ đô la Mỹ, tăng 3,8% so với năm 2016. Mỹ chiếm 18% kim ngạch chuối nhập khẩu, đạt 2,8 tỉ đô la Mỹ năm 2017. Mức giá chuối ổn định trong suốt thời gian 30 năm nay, đặc biệt từ năm 2005 đến hiện tại, giá chuối tăng trưởng khá rõ nét.

Cavendish, hay Việt Nam vẫn gọi là chuối già Nam Mỹ, cho đến giờ loại chuối thống trị thị trường chuối thương phẩm thế giới do năng suất cao, chất lượng quả đồng đều. Nhờ những đặc tính phù hợp với thương mại như tối đa hóa thời gian bảo quản mà giống chuối cavendish đã thống trị tuyệt đối thương mại toàn cầu với tỉ lệ 99%, và ước tính chiếm tới gần một nửa sản lượng chuối thế giới.

Chuối thương phẩm không được thu hoạch chín cây, mà sẽ chín trong quá trình vận chuyển. Trước khi đưa lên kệ ở các siêu thị và hệ thống bán lẻ chuối chính thức được ủ chín và có màu vàng đều, đẹp mắt. Thời gian từ khi cắt khỏi cây cho đến khi lên bàn phục vụ thực khách kéo dài khoảng từ 4 đến 6 tuần. Hương vị có phần nhạt nhẽo của chuối cavendish bán ở siêu thị là do được thu hoạch sớm, độ đường chưa đạt tối đa. Chuối cavendish thương phẩm thua xa các loại chuối chín cây về cả về mùi hương và độ ngọt.

Sự thống trị của chuối cavendish trong nền thương mại chuối toàn cầu đến từ bước ngoặt năm 2014, khi hai trong số năm công ty xuất nhập khẩu chuối lớn nhất toàn cầu là Chiquita và Fyffes sáp nhập. Trước đó, các loại chuối khác vẫn chiếm khoảng 12% trong thương mại chuối toàn cầu.

 

File

Gia đình ông Võ Quan Huy bắt đầu trồng thử nghiệm chuối cavendish vào năm 2014, đến năm 2015 chính thức trồng trên diện tích lớn và hướng tới thị trường xuất khẩu. Khi lô hàng đầu tiên được thu hoạch vào năm 2015, cũng là lúc thương hiệu Fohla (Fruit of Huy Long An) ra đời. Fohla thành công nhất khi xuất khẩu sản phẩm mang thương hiệu của mình, thay vì xuất khẩu quả tươi dưới thương hiệu của đối tác nước ngoài. Ông Huy cho biết, trong bảy tháng đầu năm 2018, Fohla xuất khẩu khoảng 5.000 tấn chuối – tương đương sản lượng xuất khẩu của cả năm 2017.

Thị trường nội địa đến nay vẫn chưa thực sự được Fohla chú trọng khai thác. Tỉ lệ xuất khẩu của Fohla là từ 90-95%. Một phần nhỏ chuối của Fohla đang được bán tại các chuỗi cửa hàng tiện lợi như 7Eleven, Cicle K,…với giá từ 8 đến 10 nghìn đồng mỗi quả. Điều này dễ hiểu, khi thị trường nội địa nhìn đơn giản, nhưng lợi thế cạnh tranh lại thuộc về các nông hộ với quy mô nhỏ, khả năng linh hoạt và dễ thích nghi với các kênh bán và mức giá khác nhau. Logistics trong kênh phân phối bán lẻ trong nước là vấn đề khiến Fohla lo ngại. “Nó đắt hơn việc vận chuyển bán buôn khối lượng lớn sang Trung Quốc hay Nhật Bản, Hàn Quốc” – ông Huy cho biết. Ngoài ra, khi bán tại các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện lợi trong nước, Fohla phải tự ủ chuối. Công nghệ ủ chuối được công khai rộng rãi trên internet, nhưng để áp dụng vào thực tế, đã có hàng contairner chuối bị hỏng, phải đổ bỏ. Mỗi container tương đương 20 tấn chuối.

Để đầu tư 1 héc-ta đất trồng chuối, ông Huy cho biết phải bỏ ra khoảng 500 triệu đồng - mức chi phí mà chỉ những người “phú nông” như ông mới chịu được. 200 héc-ta đã được gia đình ông duy trì từ nhiều năm nay và chưa có kế hoạch mở rộng do việc tìm kiếm công nhân chăm sóc không dễ dàng. Đạt chứng chỉ VietGAP, với Fohla là đủ khi các đối tác xuất khẩu chấp nhận. Ông Huy cũng chưa có ý định đăng ký tiêu chuẩn GlobalGAP do “chưa cần thiết” và lo ngại tăng chi phí quản lý, văn phòng. Hiện tổng số lao động gián tiếp của Fohla khoảng 20 người, ông Huy cho biết.

 

File

Lịch sử thương mại chuối thế giới bắt đầu từ các nước Nam Mỹ với khí hậu xích đạo và cận xích đạo, lại thuận tiện về đường vận chuyển sang thị trường Mỹ, châu Âu. Năm công ty chuối lớn nhất thế giới đã có lúc chiếm tới 70% thị phần chuối toàn cầu, nhưng tỷ lệ này đang giảm dần, giờ chỉ còn mức xung quanh 50%. Thị trường tiêu thụ ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… đang kích thích các quốc gia sản xuất chuối thuộc châu Á như Trung Quốc, Philippines, Việt Nam… Cơ hội gia nhập chuỗi giá trị thương mại chuối toàn cầu đang dần mở rộng ra với các thương hiệu nhỏ hơn trong khu vực.

Chuối là loại cây thích hợp với khí hậu nắng nóng, và cho thu hoạch hai lần mỗi năm. Ở Việt Nam, trong khi miền Bắc có một nửa năm lạnh giá, thì miền Nam là khu vực thích hợp để trồng chuối cho năng suất cao. Chuối Việt Nam có lợi thế cạnh tranh đáng kể khi miền Bắc Việt Nam bước vào mùa lạnh, cũng là lúc tỉnh Quảng Tây – khu vực trồng chuối chủ yếu của Trung Quốc có khí hậu tương tự.

Nhật Bản là thị trường chính của Fohla. Chuối là loại trái cây phổ biến với 64% dân số sử dụng hàng ngày, theo số liệu từ hiệp hội nhập khẩu chuối Nhật Bản.  Mỗi năm theo thống kê, Nhật Bản nhập khẩu chuối khoảng 850 triệu đô la Mỹ, đứng thứ 5 thế giới. Chuối bắt đầu nhập khẩu mạnh mẽ vào Nhật Bản từ những năm 70 từ Đài Loan và Ecuado. Trước đó, nguồn cung chuối ở quốc gia này khá hạn chế, chỉ đến từ hai vùng trồng Okinawa và Kyushu. Hiện tại phần lớn chuối nhập khẩu vào Nhật Bản là từ Philippines, quốc gia xuất khẩu chuối lớn nhất khu vực Đông Nam Á với kim ngạch hơn 650 triệu đô la Mỹ năm 2017, theo World’s Top Exports.

 

File

Với Nhật Bản, ông Huy đánh giá, mặc dù các tiêu chuẩn khắt khe nhưng minh bạch và rõ ràng. Chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn đối tác đưa ra là chuối của công ty có thể đi vào các siêu thị. Việc xúc tiến bán hàng tại siêu thị sẽ do đối tác Nhật Bản lo và Fohla không cần phải bận tâm. Nhật Bản là thị trường khắt khe nhất nhưng cũng có mức giá xuất khẩu ổn định nhất  cho Fohla khi thông thường được chốt cho cả năm trong hợp đồng, trong khi với Hàn Quốc giá có thể sẽ được chốt theo mùa và với Trung Quốc thì giá này sẽ thay đổi mỗi tuần, thậm chí mỗi ngày

Ngoài ra, khối lượng chuối còn lại sẽ được Fohla xuất khẩu sang Trung Quốc, hiện tại là với thương hiệu Jiefu Team. Thương hiệu chuối xuất khẩu sang Trung Quốc sẽ thay đổi tuỳ theo nhà nhập khẩu nước bạn. Năm 2017, Fohla xuất khẩu dưới thương hiệu Honest Man. Khác với chuối xuất khẩu sang Hàn Quốc và Nhật Bản được cắt thành từng cụm 4 quả, chuối xuất khẩu sang Trung Quốc được cắt thành từng nải. Với 200 héc-ta hiện tại, Fohla chưa có nhu cầu mở rộng thị trường, mà chỉ tập trung cải thiện năng suất, tăng xuất khẩu sang các thị trường sẵn có.

Một trong những thách thức lớn nhất của Fohla hiện nay là cách khai thác chuối phế phẩm, không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Những quả chuối này thường chỉ khiếm khuyết về mặt hình thức, ruột vẫn có chất lượng bình thường. Thế nhưng, ngay cả tiêu thụ ở Việt Nam cũng vô cùng khó khăn.

Cao điểm Fohla có tới 10 tấn chuối phế phẩm mỗi ngày. Nếu tính giá bán khoảng 4.000 đồng/kg, mỗi ngày trang trại có thể thu về 40 triệu đồng, đủ sức trang trải chi phí cho công nhân nông nghiệp. Hiện Fohla vẫn chưa có biện pháp chế biến chuối phế phẩm. Một khi không chế biến được, hoặc tìm đối tác chế biến chuối, thì chuối phế phẩm phần lớn vẫn phải đổ bỏ, lãng phí rất lớn. Công ty vẫn đang tìm cách khắc phục điểm yếu này. Fohla vẫn thống kê lỗi trên mỗi quả chuối mỗi lần thu hoạch. Ví dụ độ cong vênh, trầy xước, dính nhựa…Thường là do quy trình cắt núm chưa chính xác, xếp chuối chưa chuẩn… Với các lỗi được phát hiện, phải mất 3 tháng mới có thể khắc phục được ở lứa chuối mới do độ trễ về quá trình chăm sóc, thu hoạch. Ông Huy ước tính, mỗi ngày có khoảng 1.200 cây chuối trổ buồng. Vậy là trong thời gian lỗi chưa được khắc phục, hơn 100 nghìn buồng chuối vẫn “dính lỗi”. Chưa kể, những lỗi mới luôn phát sinh trong quá trình canh tác.

“Các doanh nghiệp nông nghiệp, hơn thua nhau là tỷ lệ quả loại 1 chứ không phải tổng sản lượng trên mỗi hec-ta” – anh Võ Xuân Hòa cho biết. Với hoa quả, loại 1 và loại 2 có mức giá chênh lệch rất lớn, thậm chí loại 2 đã phải đổ bỏ, trong trường hợp xuất khẩu. “Khi chúng tôi xuất chuối sang Nhật, ví dụ giá bán là 11 đô la Mỹ/thùng 13,5 kg. Nếu sản phẩm lỗi, giá bán chỉ còn khoảng 7 đô la Mỹ/thùng, chưa kể tiền phí xử lý rác thải, là những quả chuối bị lỗi” – ông Huy nói về khác biệt giữa chuối loại 1 và loại 2 khi xuất khẩu.

Khác với các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp khác, Fohla thuê công nhân nông nghiệp thay vì hợp tác với các hộ gia đình. Tính cam kết của nông dân cũng như công nhân nông nghiệp Việt Nam nhìn chung chưa cao. Tuy nhiên, khi làm việc với công nhân nông nghiệp do quan hệ chủ sở hữu trang trại, trả lương cho lao động, các hình thức kỷ luật dễ áp dụng hơn. Thời gian “nhảy ra nhảy vô” của công nhân nông nghiệp là khoảng 6 tháng. Những lao động gắn bó qua 1 năm thường không có ý định nhảy việc, anh Hòa cho biết.

Yêu cầu chăm sóc chuối phức tạp hơn các loại cây khác, ông Huy cho biết.

Quả chuối sẽ cong dần trong quá trình lớn. Để giữ cho chuối có độ cong phù hợp các hoạt động thương mại, các công nhân kỹ thuật bọc các buồng chuối lại bằng túi nilon. Nhưng ngay từ lúc những quả chuối còn chưa kịp cong, những công nhân chăm sóc vườn chuối phải cắt đi phần núm thừa ở cuối mỗi quả chuối để đảm bảo thẩm mỹ. Sẽ phải rất cẩn thận lựa thời điểm thích hợp để nhựa chuối chảy ra ít nhất, cũng như tránh chảy lên thân các quả chuối khác.

Có khoảng 400 công nhân trực tiếp chăm sóc 200 héc-ta chuối với 21 công đoạn được ghi đầy đủ ở một tấm bảng. Các loại bệnh, nấm xuất hiện từ mùa mưa khiến tỷ lệ quả sai hỏng của Fohla năm 2017 có lúc lên tới lên tới 40%.

Mỗi ngày hơn 50 lao động xưởng đóng thùng chuối xuất khẩu của Fohla xuất xưởng khoảng 1.500 thùng chuối, mỗi thùng khoảng 13,5kg. Lương công nhân nông nghiệp lao động ở xưởng đóng gói hay chăm sóc trực tiếp cây chuối dao động xung quanh 6-7 triệu đồng mỗi tháng. Những dịp đặc biệt, Fohla thuê khoán công nhân theo ngày, trả công tới 300 nghìn đồng mỗi ngày cho một lao động. Để đạt kích thước quả tối ưu, kỹ thuật viên phải cắt bớt các nải chuối, chỉ để khoảng 7-10 nải trên mỗi buồng. Nải dưới cùng, người ta thường để lại chỉ 1 hoặc 2 quả với chức năng đơn giản: khắc chữ ngày tháng để theo dõi ngày thu hoạch của buồng chuối. Đó như cuốn sổ tay ghi chép gắn vào mỗi buồng chuối.

Ông Huy quên rất nhanh những thành công ban đầu của công ty. Năm 2015, Fohla xuất khẩu lô chuối đầu tiên sang Singapore. Ông hầu như không nhớ câu chuyện đặc biệt nào về dấu mốc lịch sử này. Hiện Fohla vẫn đang miệt mài tìm các giải pháp tối ưu để tăng năng suất cho chuối, thay vì nhớ về những ánh hào quang trong quá khứ. 

File

Bài: Minh Thư

Đồ họa: Hà Nguyên