Cà phê được giao dịch thế nào

Gần đây, Starbucks cũng đã lặp lại nó trong báo cáo cho Ủy ban về Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ (tiếng Anh: US Senate Committee on Foreign Relations). Tuy nhiên, điều đó là không đúng và ảnh hưởng lớn đến giá trị của ngành cà phê. Vậy sự thật là gì? Và cà phê được giao dịch như thế nào?

Cà phê luôn dẫn đầu khi nói đến mức độ thu hút sự quan tâm của các tổ chức về đạo đức thương mại. Tuy nhiên, về tần suất và giá trị tài chính, cà phê xếp sau dầu mỏ, đậu tương, vàng, ngô và lúa mì…

Đầu tiên, sự khác biệt giữa thương phẩm (commodity) và sản phẩm (product): thương thẩm là sản phẩm thô. Ví dụ, cà phê nhân xanh (green coffee bean) và cà phê đã rang (roasted coffee bean), cả hai vừa là thương phẩm vừa là sản phẩm. Nhưng cà phê đóng chai bạn tìm thấy ở siêu thị, đó chỉ là sản phẩm. Và cà phê không phải là sản phẩm được giao dịch nhiều thứ hai trên thế giới, cũng không phải là thương phẩm được giao dịch nhiều thứ hai trên thế giới.

Theo dữ liệu năm 2015 của MIT’s Observatory of Economic Complexity (OEC), cà phê là thương phẩm nói chung được giao dịch nhiều thứ 98 trên thế giới. Trong đó cà phê nhân xanh đứng vị trí thứ 114 và 301 với cà phê đã rang. Trên thực tế, cà phê cũng không phải là sản phẩm nông nghiệp giao dịch nhiều nhất trên thế giới, nó đứng sau đậu nành (vị trí thứ 54) và lúa mì (vị trí thứ 70).

Những lời rỉ tai về cà phê là mặt hàng được giao dịch nhiều thứ hai trên thế giới đã phần nào làm giảm giá trị thực của nó. Cà phê không phải là một hàng hoá, đó là một ngành công nghiệp khổng lồ đã đạt giá trị xuất khẩu 30 tỉ đô la Mỹ vào năm 2015 (theo OEC). Đồng thời, cà phê có tác động mạnh mẽ trực tiếp đến nền kinh tế của rất nhiều quốc gia. Theo Ngân hàng thế giới, tại Colombia, cà phê chiếm 7,2% xuất khẩu và khoảng 7 - 8% GDP.  

Tuy nhiên, ngành công nghiệp cà phê rất dễ bị tổn thương bởi những tác động khách quan như thời tiết xấu, sâu bệnh, điều kiện canh tác khắc nghiệt và quan trọng nhất là giá cả thường rất thấp. Làm sao người ta có thể tin vào những khó khăn mà ngành cà phê đang phải đối mặt và tăng giá mua sản phẩm đúng từng phẩm cấp nếu cứ tiếp tục có những tuyên bố như trên? Đó là lý do vì sao không nên tiếp tục những tuyên bố không chính xác.

 

File

Cà phê được phân theo hai loại chính là cà phê specialty (đặc sản) và cà phê thương mại (commercial). Hiểu đơn giản, cà phê specialty được kiểm soát nghiêm ngặt và minh bạch từ khâu chọn giống đến rang và pha chế. Cà phê sau khi thu hoạch sẽ được các chuyên gia thẩm định (Arabica Q-Grader) phân tích đánh giá mẫu. Những mẫu nào đạt thang điểm từ 80 trở lên sẽ được phân loại là Specialty. Phần còn lại là cà phê thị trường. Điều kiện khí hậu thời tiết là nhân tố chính quyết định, chỉ cần một cơn mưa bất chợt cũng có thể biến vụ mùa thu hoạch cà phê specialty thành cà phê thương mại.

Giá cả của cả hai loại cà phê trên đều rất đa dạng với tỉ suất lợi nhuận cao. Số tiền mà các nhà sản xuất được trả sẽ dựa vào: năng suất, chất lượng, cung - cầu, và các điều kiện thu hoạch khác. Điều này tác động trực tiếp đến chi phí mà các nhà rang, thương lái và nhà nhập khẩu phải chịu.  

Giá cà phê toàn cầu thường được gọi là giá C (C-price), tính bằng đồng đô la Mỹ trên đơn vị trọng lượng là Pound ($/lb), mỗi Pound khoảng 0,45kg. Đây là giá cả được quy ước cho cà phê thị trường niêm yết trên sàn giao dịch New York (The New York Stock Exchange). Các nhà sản xuất thường thảo luận mua bán bằng đơn vị là bao. Mỗi quốc gia sẽ có cách tính khối lượng bao khác nhau, ví dụ như cà phê đến từ châu Phi, Brazil và Indonesia là 60kg, từ Trung Mỹ là 69kg. Ở vi mô giao dịch lớn hơn, các thương nhân thường dùng đơn vị là container, mỗi container chứa khoảng 300 bao cà phê.  

Mức giá C ban đầu được định ra đơn giản dựa vào cung và cầu, là mức giá tối thiểu mà cà phê toàn cầu được giao dịch. Ở một chừng mực nào đó, mức giá C này đã thực hiện đúng hiệu quả của nó. Vào năm 2000, nhu cầu thị trường cà phê tăng mạnh, nguồn cung khan hiếm liên tục trong những năm tiếp theo. Đến năm 2010, thế giới chứng kiến đợt cà phê lên giá cao nhất từ trước đến nay với hơn 3$/lb.  

Thực tế, đó chỉ là giai đoạn 2000 - 2010 khi ảnh hưởng của cung và cầu trở nên rõ rệt, còn lại, mức giá C đã chịu rất nhiều yếu tố khác tác động nên ngày càng lỏng lẻo, nhất là dòng tiền khổng lồ từ các thương nhân và các quỹ đầu cơ. Điều này tạo ra một thị trường đầy biến động, từ mức tăng đột biến lao dốc xuống mức lợi nhuận không bền vững. Đó là lý do các nhà sản xuất cà phê phải thành lập nhiều tổ chức bảo trợ giá khác, vì giá C về cơ bản không hề phản ánh chi phí sản xuất, nếu chỉ dựa vào nó thì sẽ không có bất cứ cây cà phê giống tốt nào được trồng. Dẫn đầu của các phong trào này là Thương mại bình đẳng (Fair Trade), Rainforest Alliance , Chứng nhận hữu cơ (Organic Trade Association),…

 

File
File

Sương muối ở Brazil vào những năm 1975-1976 đã làm cho sản lượng cà phê suy giảm nguy trọng. Thế giới chứng kiến sự yếu kém của Hiệp định cà phê quốc tế (ICA) vốn dĩ lập ra để cân bằng giá cung - cầu. Giá cà phê tăng vọt khiến người nông dân bắt đầu cuộc đua phá bỏ những cây trồng khác và trồng cà phê ồ ạt. Phía người tiêu dùng bắt đầu có xu hướng sử dụng những thức uống khác thay cho giá cả đắt đỏ của cà phê, đó là lý do cho sự phát triển của Coca Cola vào những năm 1980. Đỉnh điểm của sự mất kiểm soát này là cuộc khủng hoảng cà phê vào năm 1988, cả thế giới chìm trong cà phê với giá rớt thê thảm. Từ đó Thương mại bình đẳng (Fair trade) ra đời nhằm bảo trợ giá cho người nông dân, bấy giờ lấy tên là Max Havelaar, thành lập tại Hà Lan. Tuy nhiên, những nỗ lực đầu tiên không mang lại nhiều kết quả khả quan.  

Ngày nay, thế giới vẫn còn nhiều nhầm lẫn về hoạt động thực sự của “Fair trade”. Tuy nhiên, phải công nhận rằng “Fair trade” đã làm được thành công nhất định về việc giúp cho những người mua xem trọng sự minh bạch và chất lượng cà phê. Mặc dù, vẫn còn rất nhiều lời dèm pha rằng sự nhập nhằng tài chính trong ngành cà phê để khiến cho những người nông dân không nhận được số tiền đúng như những gì họ xứng đáng.  

Trên thực tế, mô hình chuẩn mực của “Fair trade” được lập ra để làm việc với các hợp tác xã tại địa phương (khu vực có nhiều nông hộ trồng cà phê), điều này cũng đồng nghĩa với việc không thể cung cấp chính xác thông tin của từng nông trại. Đây vốn là thông tin mà ngành Specialty rất xem trọng. Về mặt tài chính, “Fair trade” luôn nêu cao tinh thần cà phê bền vững, nghĩa là họ sẽ cung cấp một mức giá mà theo họ là đang tốt nhất cho thị trường. Tuy nhiên, nếu trong trường hợp giá thị trường đang tăng cao hơn mức giá của họ thì lúc này họ sẽ luôn tăng thêm $0.05/lb so với giá C. Ví dụ cụ thể, khi giá C của Arabica đang là $1,26/lb và của Robusta đang là $1,06/lb vào ngày 5/6 thì lúc này giá trên “Fair trade” vào ngày 6/6 sẽ là $1,55-1,9/lb của Arabica và $1,51-1,55/lb của Robusta.

Với mức độ chênh lệch giá không đáng kể này, nhiều nông hộ có xu hướng chuyển đổi sang canh tác chuẩn cà phê Specialty để nhận được mức giá cao hơn đáng kể. Tuy nhiên, hầu hết người nông dân thừa nhận rằng những tháng năm chuyển đổi canh tác và sau đó phải chờ đợi chứng nhận Specialty khiến họ không đủ chi phí để sống. Một số ý kiến trái chiều khác chỉ trích rằng mô hình này không có chiến lược cụ thể để ngăn chặn tham nhũng. Trên thế giới có khoảng 17,7 triệu nông hộ trồng cà phê quy mô nhỏ tập trung ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh. Theo nghiên cứu mới nhất của Fairtrade International và True Price trên 465 nông hộ đã được tổ chức cấp chứng nhận thương mại tương thượng, tuy nhiên, chỉ có nông dân Indonesia nhận được thu nhập ổn định.  

 

File
File

Khái niệm về cà phê specialty được Erna Knutsen đưa ra vào năm 1973. Knutsen dùng định nghĩa này để hàm ý chỉ những hạt cà phê với nguồn gốc rõ ràng mà bà đang bán. Từ đó, thế giới bắt đầu có sự quan tâm về các loại hạt cà phê hơn.

Ngày nay, cà phê Specialty như len lỏi vào từng ngóc ngách của mỗi thành phố. Tuy nhiên trên thực tế, người tiêu dùng hiếm khi quan tâm về câu chuyện nguồn gốc và phẩm cấp từng loại hạt cà phê trên thế giới. Cà phê vẫn chỉ là thức uống tỉnh táo với mọi người.

Cà phê đã giúp cho cuộc sống của hàng triệu người trên thế giới tốt hơn. Từ nông trại, cuộc sống của những người nông dân, đến thành thị, nơi tạo việc cho hàng nghìn Barista (người chuyên pha chế cà phê), Roaster (người chuyên rang cà phê), Cupper (người thẩm định chất lượng hạt cà phê), và các doanh nghiệp cà phê nhỏ… Điều này sẽ được lan rộng hơn nếu như họ được trả giá hợp lý, người mua quan tâm hơn với chất lượng sản phẩm và nhà sản xuất chịu đầu tư cơ sở hạ tầng cho nông trại tốt hơn. Đây là lúc bắt đầu truyền đạt những thông điệp chân thật của cà phê./.

File

Bài: JN Nguyễn

Đồ họa: Hà Nguyên